GIÁO XỨ HƯNG ĐẠO

Năm thành lập: 
1963
Bổn mạng giáo xứ: 
Thánh Bổn mạng Gioan Baotixita.
Số Giáo dân: 
1496
Giới thiệu: 

GIÁO XỨ HƯNG ĐẠO
20.08.2008 07:19

Tóm tắt lịch sử hình thành và phát triển của Giáo xứ trong suốt thời gian từ ngày được thành lập cho đến hôm nay.

I. Lịch Sử Hình Thành: (1960 – 2008)
Sau năm 1954 (ngày ký hiệp định Giơnevơ) một số đồng bào miền bắc VN di cư vào miền nam để lập nghiệp. Chính quyền đương thời phân bổ số đồng bào di cư nói trên được định cư tại tỉnh Darlac, trong số đó có một số đồng bào công giáo... Trong thời gian này có một số đồng bào công giáo được định cư ngay tại làng Hưng Đạo, cách thị xã BMT khoảng 1 km. Vì số đồng bào Công giáo thời bấy giờ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ so với đồng bào Phật giáo nên chính quyền thời bấy giờ đã đặt tên là trại Phật giáo Hưng Đạo (địa danh được chia cắt rõ ràng). Tọa lạc trên khu tứ giác giới hạn bởi các trục đường: Nguyễn công Trứ, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Du và giòng suối Ea Tam…
Trong khoảng thời gian này, vì điều kiện kinh tế, thổ nhưỡng ôn hòa, đất lành chim đậu, vào 2 năm 1956-1958, một số gia đình Công giáo ở các nơi khác cũng tìm đến định cư thêm. Từ đó số Gia đình Công giáo tăng thêm, đa số là các gia đình quân nhân thuộc tỉnh đoàn bảo an Đaclac. Khoảng 16 gia đình với nhân khẩu 32 người, nhóm này có mối quan hệ mật thiết với nhau như đồng hương, họ sống quây quần đùm bọc lẫn nhau dưới sự hướng dẫn của một vị cao niên có uy tín là ông Phêrô Nguyễn Văn Hân. Từ đó các gia đình tự đông tập trung sinh hoạt tôn giáo tại các tư gia, riêng các ngày lễ trọng, Chúa nhật hoặc có nhu cầu hưởng bí tích thì đến tham dự tại nhà thờ thị xã (nay là Giáo xứ Thánh Tâm)
Đầu năm 1959-1960, số người từ nơi khác vì nhu cầu cuộc sống, nhất là gia đình quân nhân tìm đến định cư khu làng Hưng Đạo ngày càng tăng thêm, họ định cư trên các triền đồi hai bên bờ suối Ea tam, đường Phạm Hồng Thái, đường Nguyễn Du, thời điểm này con số gia đình công giáo tăng lên 28 với số nhân khẩu 165 người. Với số Giáo dân trên, ước lượng sẽ còn tăng lên theo chiều phát triển của xã hội thời bấy giờ nên Cha chánh xứ nhà thờ thị xã lúc đó là Gioan Baotixita Trần Thanh Ngoạn quyết định cho phép thành lập Giáo họ trực thuộc Giáo xứ Thánh Tâm và lấy Thánh hiệu là Giáo Họ Nghĩa Đức, mừng kính Thánh bổn mạng là Gioan Baotixita vào ngày 24/6 hàng năm. Trong thời gian này ông Phêrô Nguyễn Văn Hân được đề cử làm Trùm họ, và một nhà nguyện bằng tôn vách ván được dựng lên trên khu đất của ông Hân và một số bà con tự nguyện dâng cúng. Nguyên vật liệu tháo từ hội trường cũ của nhà thờ thị xã.

II. Thành lập Giáo xứ
1. Xây cất nhà thờ mới:

Đầu năm 1963, số giáo dân tăng lên rất nhanh. Tổng số đã lên đến 1280 người, gồm 213 gia đình, ngôi nhà nguyện cũ không còn đủ sức chứa số người tham gia sinh hoạt tôn giáo. Để phát triển cho tương lai dưới sự hướng dẫn của Cha G.B Trần Thanh Ngoạn, ban đại diện Giáo họ đã vận động bà con giáo dân góp công của cùng với sự giúp đỡ từ bên ngoài như ông Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Tích, ông Lê Xuân Hồng… Một ngôi nhà thờ mới đã được xây dựng gồm 5 gian (4m x 8m). 1 gian Cung Thánh và 4 gian dành cho cộng đoàn. Các công trình phụ cũng được xây dựng trong thời gian này như nhà xứ, các phòng học giáo lý, mua sắm các đồ dùng thờ tự, trang thiết bị cần thiết cho nhà thờ… Mọi sinh hoạt tôn giáo từ đó có chiều hướng phát triển mạnh, có uy tín, đứng đầu là ông Nguyễn Văn Hân.

2. Thành lập
Ngày 24/6/1966, Giáo họ Nghĩa Đức được nâng lên thành Giáo Xứ do đề nghị của Cha Trần Thanh Ngoạn và được Đức Giám Mục Giáo Phận Kon-Tum duyệt y.
- Danh hiệu: Giáo xứ Hưng Đạo.
- Thánh Bổn mạng Gioan Baotixita.
- Giáo dân 1280 người, (chiếm tỷ lệ 13% dân cư trong địa bàn).
Được chia thành 4 giáo họ trực thuộc:
-Giáo họ Giuse: 72 gia đình, 420 người
- Giáo họ Mân côi: 60 gia đình, 400 người.
- Giáo họ Phê rô: 74 gia đình, 426 người.
- Giáo họ Vinh sơn: 7 gia đinh, 34 người.
Vị trí địa lý: Giáo xứ Hưng Đạo nằm về phía đông nam thị xã, dưới một thung lũng hẹp, giới hạn bởi một vòng cung dọc theo giòng suối Ea Tam, từ cuối đường Nguyễn Công Trứ đến Chân đồi (nay gọi là đồi khí tượng thủy văn) phân cách và giới hạn với các xứ bạn bằng các trục đường giao thông là Phạm Hồng Thái, đường Độc Lập, suối Ea Tam hình thể tam giác diện tích khoảng 5 km2 cách trung tâm thị xã 1,5 km.

III. Các thời Cha Quản Xứ và việc Phát triển Giáo xứ:
1. Từ 1966-1969: Cố Lm Nguyễn Văn Bân làm Quản xứ tiên khởi, Ngài khởi sự nền móng cho các sinh hoạt tôn giáo. Một Ban hành giáo được bầu lên do ông Phê rô Nguyễn Văn Hân làm trưởng ban, cùng các cộng tác viên khác như: ủy viên phụng vụ, ủy viên giáo lý, ủy viên hiếu sự. Trong thời gian này có biến cố tết Mậu thân 1968, một số giáo dân lại bỏ Giáo xứ dời đi nơi khác.

2. Từ năm 1970- 1971: Cha Cố Phanxicô Vũ Cát Đại được ĐGM hoán đổi về thay thế Cha Bân. Thời gian này Giáo Phận BMT được thành lập. Đức Cha Phêrô Nguyễn Huy Mai làm GM tiên khởi, đã ban hành quy chế mới, do đó Hội Đồng Giáo Xứ được bầu lại Ông Phê rô Trần Văn Khánh được bầu làm Chủ tịch, và các Ủy viên khác, trong đó có 4 Giáo họ Phêrô, Giuse, Mân Côi, Vinh Sơn. Xây dựng được cổng, tường quanh khuôn viên nhà thờ, quy hoạch được ranh giới nghĩa trang diện tích:

3. Từ năm 1973- 1975: Cha cố Đôminicô Đào Công Roanh về thay Cha Vũ Cát Đại. Ngài tiếp tục tu sửa nhà thờ xứ bị hư hại sau biến cố tết Mậu thân, xây lại tượng đài Đức Mẹ Lộ Đức, Bầu lại HĐGX đã mãn nhiệm và một số hội đoàn, ông Phêrô Nguyễn Văn Hạnh làm Chủ Tịch.
Năm 1975 Giáo xứ Hưng Đạo bị xáo trộn, Cha xứ bị bắt đi cải tao tập trung, rất đông giáo dân đi kinh tế mới, di tản, gần 2 năm không có Cha Quản xứ, các hội đoàn bị giải tán, cấm hoạt động. Các ngày Chúa nhật và lễ trọng ông Chủ tịch phải lên Tòa Giám Mục xin Cha về dâng lễ.

4. Từ năm 1976-1980: Cha Gioan B Phạm Bá Lễ được Tòa GM bổ nhiệm về làm quản xứ (đây là thời kỳ khó khăn nhất của Giáo xứ), một HĐGX âm thầm ra đời do ông GioaKim Nguyễn Xuân Vũ làm chủ tịch, số giáo dân còn lại là 620 người trong 103 gia đình. Trong suốt thời gian này công việc mục vụ là của Cha xứ, còn các công việc khác hầu như bế tắc.

5.Từ năm 1981-1985: Cha cố Phaolô Võ quốc Ngữ được bổ nhiệm về thay thế Cha Phạm Bá Lễ, cũng như thời gian trước, các sinh hoạt tôn giáo chỉ được thu gọn trong nhà thờ, ngoài việc phụng vụ Thánh lễ và cử hành các Bí tích, ngoài ra không có một sinh hoạt nào khác, HĐGX không hoạt động, ca đoàn, ban giáo lý, các hội đoàn nhen nhóm sinh hoạt bất thường và bị kiểm soát chặt chẽ. Tuy nhiên mùa Vọng năm 1983, một HĐGX mới cũng được Cha xứ và chính quyền chỉ định cho ông Vũ Ngọc Nhã làm chủ tịch và 4 ủy viên đặc trách các phận vụ chuyên môn.

6. Từ năm 1986- 1996: Cha Giuse Nguyễn Tích Đức làm quản xứ thay thế Cha Võ Quốc Ngữ, trong thời kỳ này nhờ chính sách đổi mới cuộc sống của giáo dân có nhiều thay đổi về đời sống vật chất cũng như tinh thần. Các sinh hoạt trong Giáo xứ có nhiều chuyển biến, việc sửa sang nhà thờ, tu bổ phòng ốc, xây dựng một số phòng học giáo lý, nghĩa trang cũng được quy hoạch lại khang trang sạch đẹp, các lớp giáo lý dự tòng, thêm sức, xưng tội rước lễ lần đầu, hôn nhân cũng được Cha quản xứ quan tâm đặc biệt.
Trong mười năm này giáo dân trong xứ tăng từ 613 lên 920 người. HĐGX được lưu nhiệm suốt 4 nhiệm kỳ. Đặc biệt giáo xứ có thầy phó tế Phê rô Trần Ngọc Anh (Sau này được thụ phong Lm quản xứ), được Giáo phận bổ nhiệm về phụ tá cho Cha quản xứ.

7. Từ năm 1997- 1999: Cha Phê rô Trần Ngọc Anh được nhậm chức Lm quản xứ sau hơn một năm làm phó xứ. Là Linh mục trẻ nên ngài nghĩ ngay đến việc phát triển giáo xứ về mọi mặt, đặc biệt trong đời sống đức tin của giáo dân. Các hội đoàn được bổ sung các nhân sự, quan tâm đến việc dạy giáo lý của các độ tuổi, kiểm kê lại nhân danh trong giáo xứ. Bầu lại HĐGX mới theo phương thức phổ thông bầu phiếu, với sự tham gia của tất cả các gia đình trong giáo xứ, lúc này con số giáo dân tăng từ 1129 (1996) lên đến 1275 với 253 gia đình. Trùng tu Thánh đường: sau gần 40 năm sử dụng, vá víu ngôi Thánh đường đã xuống cấp trầm trọng, Cha Quản xứ, HĐGX kêu gọi mọi người nỗ lực đóng góp để trùng tu, vì tài chính gặp khó khăn nên phải thực hiện qua 2 giai đoạn.
- giai đoạn 1: từ 1-2 đến 30-3-1998
- giai đoạn 2: từ 25-6 đến 15-8-1998.
Sau khi việc trùng tu kết thúc Giáo xứ đã có ngôi Thánh đường khang trang sạch đẹp, xứng đáng là nơi thờ phượng Thiên Chúa. Song song với việc tu bổ Thánh đường, nghĩa trang cũng được xắp xếp lại trật tự, thành lập Hội Bác ái chuyên lo an táng, ấn định diện tích một ngôi mộ và chọn mẫu xây thống nhất. Qua sự hướng dẫn của Cha quản xứ, HĐGX, giáo xứ Hưng Đạo thay hình đổi dạng một cách rõ rệt.

8. Từ năm 1999- 2006: vì công tác mục vụ Linh mục Trần Ngọc Anh được GM cử đi học nước ngoài và Cha Phaolo Nguyễn Thư Hùng được bổ nhiệm về làm quản xứ. Mọi sinh hoạt vẫn tiếp tục được duy trì tốt đẹp. Thời gian này HĐGX đã mãn nhiệm, một HĐGX nhiệm kỳ 2001-2005 được bầu ra. Ông Giuse Nguyễn Vĩnh Thẩm làm chủ tịch và 4 ủy viên khác, nhiệm kỳ của Giáo họ cũng được bầu lại, Cha xứ đặc biệt quan tâm đến đội ngũ anh chị em Giáo lý viên. Ngoài ra Cha Quản xứ cùng HĐGX lên kế hoạch sửa chữa, nâng cấp một số công trình trong Giáo xứ như: làm đường bê tông bên hông nhà thờ, mở rộng diện tích sử dụng trong nhà thờ, đóng mới lại một số ghế ngồi, mua lại hệ thống âm thanh, trồng cây xanh trên nghĩa trang, xây tường rào, đặc biệt xây mới một lễ đài đặt tượng Chúa Phục sinh làm nơi trang nghiêm để cử hành các nghi thức, đã được Đức Cha Giuse Nguyễn Tích Đức về làm phép năm 2004.

9. Từ năm 2006 đến nay: Cha Nguyễn Thư Hùng đi nhận nhiệm sở mới và Cha Phanxicô Nguyễn Ngọc Hoàng được TGM bổ nhiệm về Giáo xứ. Mọi sinh hoạt vẫn tiếp tục được duy trì bình thường. Cha quan tâm nhiều đến đời sống tâm linh của cộng đoàn, nhất là của các lãnh đạo hội đoàn.
Ngày 04-5-2008 theo thống nhất của toàn Giáo phận, HĐGX nhiệm kỳ 2008 – 2012 được tổ chức bầu lại. Kết quả:
- Ông Giuse Nguyễn Hữu Nam, Chủ tịch phụ trách phụng vụ và điều hành tổng quát.
- Ông Giuse Phạm Vân Sơn, Đệ nhất Phó chủ tịch, phụ trách Huấn giáo.
- Ông Phêrô Trương Văn Thuận, Đệ nhị Phó chủ tịch, phụ trách các hội đoàn.
- Ông Micae Đặng Quang Thiên, Thư ký
- Ông GioaKim Nguyễn Lý Luận, Thủ quỹ.

Cùng với 4 ban điều hành Giáo họ, được Cha quản xứ tổ chức tuyên thệ ngày 25-5-2008 (lễ Mình Máu Thánh), ngay sau khi tuyên thệ nhậm chức, tân HĐGX đã công tác với Cha quản xứ để điều hành công việc trong Giáo xứ, đã được phân công cụ thể cho mỗi thành viên.

IV. Tình hình dân số và đời sống giáo dân:
Ban thường vụ mới đã kết hợp với các Giáo họ để ra soát lại sổ nhân danh tính đến tháng 6 năm 2008
- Về ơn gọi: Giáo xứ Hưng Đạo đã đóng góp cho Giáo Hội được 5 Linh mục, 8 tu sĩ nam, nữ
- Diện tích khuôn viên nhà thờ: 1.368m2
- Diện tích khuôn viên nghĩa trang: 6457m2
- Tổng số giáo dân 1380 gia đình công giáo 330, được phân bổ như sau:
1. Giáo họ Mân côi:…110 gia đình, 462 nhân khẩu
2. Giáo họ Giuse: … 78 gia đình, 326 nhân khẩu.
3. Giáo họ Phê rô: … 89 gia đình, 360 khẩu.
4. Giáo họ Vinh sơn:… 53 gia đình, 232 nhân khẩu.

Đời sống Kinh tế:
Trải qua gần 50 năm hình thành và phát triển, Giáo xứ có rất nhiều sự thay đổi về tinh thần cũng như vật chất, đây là một điều không thể tránh khỏi vì nhiều lý do khác nhau của đời sống xã hội. Đặc điểm của Giáo xứ, giáo dân sống trải dài trên một địa bàn tương đối rộng, ở xen kẽ cùng với các tôn giáo bạn (tỷ lệ người công giáo 20%), đời sống kinh tế đa số sống nghề buôn bán nhỏ lẻ, phần còn lại làm nông nghiệp, kinh tế khó khăn nên it nhiều cũng ảnh hưởng đến việc sống đạo. Trong tương lai dưới sự hướng dẫn của Cha quản xứ chắc chắn sẽ có những định hướng để xây dựng Giáo xứ nhà theo kịp đà phát triển của Giáo phận.
Trên đây là những nét chính trong quá trình hình thành và phát triển của Giáo xứ Hưng Đạo. Bên cạnh đó còn có rất nhiều các hy sinh và cống hiến của các Linh Mục quản xứ, các HĐGX qua các thời kỳ mà các biến cố thời cuộc không còn lưu trữ được.

Giuse Phạm Vân Sơn
Giáo Xứ Hưng Đạo 59 Nguyễn Du, Tp BMT
Email: trucsonhd@ymail.com
 

LM Chính xứ: 
Từ năm: 
2011
Địa chỉ: 

59 Nguyễn Du, TP. Buôn Ma Thuột, Đak Lak

Giáo hạt Mẫu Tâm
Email: 
trucsonhd [at] ymail [dot] com