Tĩnh tâm linh mục giáo phận BMT (10 -13. 11. 2014)

Bài 2: NIỀM VUI ĐƯỢC LÀ LINH MỤC

Sau khi tóm lược ý nghĩa về niềm vui trong Kinh Thánh, ngày 11/11/2014, Đức Cha giảng phòng đã giới thiệu cho anh em linh mục một đề tài mới đó là Niềm vui được là Linh mục.

Qua câu chuyện về 3 vị linh mục của tu hội truyền giáo thánh Vinh Sơn Phaolô khi được gởi tới một huyện vùng sâu, vùng xa của tỉnh Yên Bái, Đức Cha giảng phòng đã cho thấy niềm vui được là linh mục của Chúa là điều mà mỗi anh em linh mục phải luôn ý thức trong cuộc sống của mình. Bởi: “Nếu một linh mục không cảm nhận được hạnh phúc, niềm vui trong ân sủng của Thiên Chúa, cuộc đời của linh mục đó sẽ là vô dụng.”. (Bài giảng của ĐTC Phanxicô, Lễ Truyền Dầu 17.04.2014)

1. Ý thức căn tính linh mục của mình
Đứng trước Thiên Chúa cao cả, con người nhận ra thân phận hèn mọn, bất xứng của mình. Các ngôn sứ trong cựu ước như Môsê, Isaia, Yêrêmia ý thức rõ điều đó. Thánh Phêrô cũng đã từng thốt lên rằng: “Lạy Thầy, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”.

Qua Bí tích Truyền chức, người linh mục được thánh hiến và được đặc cử làm đại diện Chúa, là hình ảnh của Chúa, là một Đức Kitô thứ hai. Có thể nói, ân sủng mà người linh mục lãnh nhận cao quý hơn cả các Thiên thần. Thánh Gioan Vianey đã nói rằng: “nếu gặp linh mục và Thiên thần, tôi sẽ chào linh mục trước”. Có người vì thấy chức linh mục cao cả quá nên đã không dám lãnh nhận, như thánh Phanxicô Assisi.
Cho nên, để có thể cảm nhận được niềm vui lớn lao được là linh mục, cần phải biết căn tính linh mục là thế nào...

Trong Tông huấn Pastores Dabo Vobis, số 15, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã bàn về căn tính linh mục như sau: các linh mục đại diện cho Chúa Kitô rao giảng lời Chúa cách chính thức, lặp lại các cử chỉ của Chúa Kitô để tha thứ và ban ơn cứu độ nhất là qua phép Rửa tội, phép Giải tội, phép Thánh Thể, các ngài ày tỏ sự ân cần lo lắng đầy yêu thương, đến độ hiến cả chính mình cho đoàn chiên mà các ngài thâu họp trong sự hiệp nhất và dẫn đưa họ đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần.

Chính vì thế:
- Chức linh mục là một hồng ân. Bởi trong số các tín hữu, những người được tham dự vào chức tư tế của Chúa Kitô, chỉ có một số ít người được Chúa tuyển chọn và được Giáo Hội trao ban chức tư tế thừa tác để nhân danh và thay mặt Chúa Kitô thi hành những chức năng chỉ thuộc về một mình Ngài. Qua bí tích Truyền chức liên kết linh mục với Chúa Kitô bằng một mối dây hữu thể đặc biệt.

- Linh mục được tham dự vào đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi do ân sủng của bí tích Truyền chức.

-  Sứ vụ của các linh mục không phải cho bản thân mình, nhưng là để phụng sự Thiên Chúa và mưu ích cho nhân loại. Đời sống linh mục không giản lược vào một số bổn phận phải chu toàn như một công chức. Công việc mục vụ của người linh mục không phải đem lại một lợi lộc thế trần, tạm bợ, mà đem lại ơn phúc siêu nhiên, trường cửu cho con người.

- Linh mục là người luôn nhận được sự tôn kính, mến yêu của mọi người. Chính điều này đòi hỏi linh mục phải sống sao cho sứng đáng với tình yêu mà Thiên Chúa và Giáo hội dành cho mình.

2. Đối với bản thân
Người linh mục phải diễn tả niềm vui nơi chính bản thân và trong cuộc sống :
- Qua nét mặt luôn vui tươi.
- Niềm nở với mọi người.
- Phấn khởi lạc quan trong lời nói và thái độ giao tiếp
Niềm vui đó phải được phát xuất từ trong chính tâm hồn của người linh mục.

3. Đối với giáo dân
Linh mục phải thể hiện niềm vui khi giao tiếp với người giáo dân. Đời sống nhân bản là điều mà người linh mục không được thiếu sót. Cần tránh những thái độ cau có, ăn nói cộc lốc, tiết kiệm lời nói và cả thời gian đối với người giáo dân.
Niềm vui còn được thể hiện khi người linh mục thi hành thánh vụ: thái độ khoan thai, nét mặt trang nghiêm nhưng tươi vui, cử điệu xứng hợp, toát ra vẻ thánh thiện.

Qua những chia sẻ trên, Đức Cha giảng phòng mời gọi anh em linh mục nhớ lại ân sủng của Bí tích Truyền chức mà mình đã lãnh nhận. Nhớ lại để tạ ơn Chúa, nhớ lại để niềm vui được làm linh mục luôn sống động trong bản thân mình, nhớ lại để mỗi người quyết tâm sống sao cho xứng với lời Chúa Giêsu đã nói: “Đây là con Ta yêu dấu, Ta hài lòng về người.”

BÀI 3: NIỀM VUI THI HÀNH THÁNH CHỨC

Thông thường khi nhận của ai đó một món quà gì hay một điều gì chúng ta thường thể hiện sự vui mừng. Đây là điều rất tự nhiên. Tuy nhiên, niềm vui cũng còn đến từ việc cho: “cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35).

Đức Cha giảng phòng cho hay cuộc đời linh mục tràn đầy niềm vui và có ý nghĩa, bởi linh mục là người vừa lãnh nhận vừa cho đi. Người linh mục sẽ thể hiện niềm vui đó trong khi thi hành thánh vụ của mình. Linh mục được ví như chiếc máng xối nước: nhận tất cả từ Thiên Chúa và trao ban tất cả cho anh chị em. Điều này được thể hiện qua 3 nhiệm vụ tiêu biểu.

1. Nhiệm vụ rao giảng
Trong tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói rằng cả giáo dân và linh mục đều khổ vì bài giảng: giáo dân khổ vì phải nghe những bài giảng thiếu chất lượng, còn linh mục khổ vì phải giảng những bài giảng như thế.
Linh mục nào cũng muốn soạn bài giảng hay, thiết thực, muốn nếm trải niềm vui giảng thuyết. Tuy nhiên không ít lần người linh mục cảm thấy thất vọng về chính mình, về giáo dân, về cả bài giảng của mình nữa.

Chính vì thế, khi soạn bài giảng, người linh mục cần lưu ý một số điểm sau:
a. Chuẩn bị
- Dành nhiều thời gian cho việc nghiên cứu, học hỏi, cầu nguyện, suy tư và óc sáng tạo mục vụ.
- Phải cầu xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn mình trong suy nghĩ và hành động, vì chính Chúa Thánh Thần hoạt động trong bài giảng,
- Đọc kỹ bản văn Lời Chúa để hiểu đúng, khám phá sứ điệp chính của Lời Chúa.
- Cá nhân hóa Lời Chúa. Để lời Chúa tác động lên chính bản thân mình trước.

b. Giảng
- Bài giảng như một cuộc trò chuyện, như người mẹ nói chuyện với con mình, bởi người ta không chỉ nghe bằng tai mà còn bằng cả trái tim nữa.
- Ấm áp trong giọng nói, đơn sơ trong cách trình bày, vui vẻ trong cử chỉ, hấp dẫn trong lý lẽ…
- Phải thông truyền niềm vui được nói, được nghe cho thính giả.

2. Nhiệm vụ thánh hóa
    a. Niềm vui khi tế lễ
Khi tế lễ, linh mục vừa dâng Chúa Giêsu như hiến lễ, vừa dâng chính mình và cộng đoàn làm hiến lễ hiệp với Chúa Giêsu trên bàn thờ.
Vì thánh lễ là tâm điểm, là chóp đỉnh của đời sống Giáo Hội, phụng vụ, và của cả linh mục cũng như giáo dân. Chính vì thế, Linh đạo của linh mục là phải liên kết bản thân mình với Thánh Thể.

Có thể trong quá khứ, người linh mục đã nhiều lần dâng lễ cách thụ động, nhàm chán, tâm tình xoàng xĩnh,,, Cho nên, người linh mục cần tâm niệm lời khuyên của Mẹ Têrêsa Calcutta: “xin cha dâng thánh lễ này như thánh lễ mở tay, như thánh lễ cuối cùng, và như thánh lễ chỉ dâng một lần trong đời.

Mỗi khi dâng lễ, linh mục phải làm mới lại niềm vui khi chuẩn bị tâm hồn. Trong khi dâng lễ, linh mục thể hiện lòng sốt sắng, trang nghiêm, khoan thai, nét mặt bình an, vui tươi, chăm chú vào việc mình làm, tránh những gì không tương hợp như nhăn nhó, la mắng, quát tháo.
Cần lưu ý: khi giáo dân thấy linh mục dâng lễ với tất cả con người, thân xác và tâm hồn, thì điều này tác động lên giáo dân tham dự thánh lễ rất nhiều.

b. Niềm vui khi giải tội
Sau việc dâng lễ, việc giải tội đem lại nhiều ân sủng nhất, làm cho sứ vụ của người linh mục có giá trị, xứng đáng và đem lại nhiều hoa trái nhất. Tuy nhiên, việc giải tội là một công việc khó nhọc, một gánh nặng. Cùng với việc phải ngồi lâu, khí hâu nóng bức, cộng với việc bản thân còn rất nhiều việc phải làm. Cho nên, linh mục dễ ngồi tòa cách máy móc, miễn cưỡng.

Với tâm lý tự nhiên, ai cũng ngại xưng tội, phải can đảm và có ơn Chúa người ta mới làm vậy. Cho nên, việc người ta đến với tòa giải tội là việc làm đáng trân trọng. Bởi thế, linh mục cần vui mừng đón tiếp như người cha đón chờ đứa con hoang trở về. Người linh mục cần phải kiên nhẫn, nhân hậu, lắng nghe. Với đức ái mục vụ, hãy niềm nở với hối nhân. Hãy coi đây là việc nên thánh của mình.

Người linh mục cần luôn nhớ rằng khi ngồi tòa giải tội, họ đang mang trong mình ba vai trò: vừa là một người cha nhân hậu, vừa là một người y sỹ tận tâm, vừa là một chánh án hiền lành.
Khi người linh mục không còn tìm thấy niềm vui trong việc hòa giải với Chúa, thì niềm vui của chức linh mục sẽ biến mất. Chỉ những linh mục nào luôn sẵn sàng quảng đại ban bí tích hòa giải cho người khác, sẽ tiến tới cách sâu xa hơn trong ý nghĩa và niềm vui của chức linh mục. Đồng thời họ sẽ cảm nhận sâu xa lòng nhân hậu của Chúa trong cuộc đời mình.

3. Nhiệm vụ quản trị
Trong sứ vụ quản trị, người linh mục sẽ có rất nhiều việc phải làm. Tuy nhiên, theo Đức Cha giảng phòng, một công việc mà người linh mục cần làm chính là việc thăm viếng giáo dân, nhất là những người đau yếu, già cả, nghèo khổ. Việc thăm viếng của linh mục đem niềm vui đến cho những con người đó, xoa dịu họ và nâng đỡ họ rất nhiều.

Noi gương Chúa Giêsu, linh mục đem đến cho những bệnh nhân, người đau khổ mầu nhiệm và niềm vui phục sinh, nhờ đó mà đau khổ của họ được biến đồi và có giá trị cứu độ.

Niềm vui của người linh mục nằm trong quà tặng mà Chúa Kitô trao cho linh mục đi phân phát đó chính là tình yêu, ơn bình an, sự an ủi, ơn tha thứ, sức mạnh …

Trong việc giao tiếp với người giáo dân, linh mục cần tránh não trạng giáo sĩ trị. Đây là một mối nguy mà linh mục ở nhiều nơi đang mắc phải.
Với chủ đề “Niềm vui thi hành thánh chức”, Đức Cha giảng phòng mời gọi anh em linh mục hãy duyệt xét lại việc thi hành thánh chức của mình qua công việc mục vụ. Trong tinh thần “hoán cải mục vụ”, anh em linh mục cần xem điều gì nên phát huy, điều gì cần sửa chữa, để trong tương quan cha – con, mục tử với con chiên, cả người linh mục và giáo dân đều hưởng trọn niềm vui.

Bài 4: NIỀM VUI NHIỆT THÀNH

“Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa
Mà con đây sẽ phải thiệt thân”
Tv 69,9

Một khi tâm hồn của người linh mục tràn đầy niềm vui vì ý thức hồng ân linh mục mà Chúa đã ban cho mình, nhất định người linh mục sẽ dấn thân phụng sự Chúa và Giáo Hội cách nhiệt thành. Sự nhiệt thành được thể hiện qua việc chu toàn các bổn phận của tác vụ mục tử cách trung thành và bền bỉ, với tình yêu say mê, cách vui tươi, quên mình.

Ngày nay, đức ái mục tử đang có nguy cơ bị đánh mất do não trạng “công chức”. Một số linh mục đã có một quan niệm sai lạc khi giảm trừ chức linh mục vào một số khía cạnh chức năng: “làm” linh mục, cung cấp các dịch vụ chuyên biệt và đảm bảo một số lời thề hứa, đó là tất cả lý do hiện hữu của đời sống linh mục. Thế nhưng, người linh mục không chỉ thi hành một “công việc”, xong thì được tự do nghỉ ngơi. Nếu căn tính và tác vụ linh mục bị giản lược như thế sẽ dẫn đến nguy cơ biến đời sống linh mục trở nên trống rỗng, thay vào đó người linh mục sẽ đền bù bằng những lối sống không phù hợp với tác vụ của mình (x. Kim chỉ nam linh mục, số 55)

Khi linh mục ý thức mình là một thừa tác viên của Đức Kitô và Giáo Hội, làm việc vì say mê Chúa Kitô, và đem hết sức phục vụ Thiên Chúa và con người, linh mục sẽ tìm thấy sức mạnh để vượt thắng mỗi nguy đánh mất đức ái mục tử trong cầu nguyện, trong học tập và việc đọc sách thiêng liêng. (x. Kim Chỉ Nam linh mục, số 55)

Để giữ được niềm vui nhiệt thành phục vụ được bền lâu, người linh mục cần:
- Luôn nhớ đến ân sủng thánh chức mình đã nhận từ Thiên Chúa và Giáo Hội.
- Có sự thống nhất và giữ sự quân bình giữa nội tâm và hoạt động.
- Tránh căng thẳng trong tâm, vì sẽ dẫn đến mệt mỏi, bi quan, cô lập và cô đơn.
- Dành địa vị tối thượng cho đời sống thiêng liêng, luôn sống với Đức Kitô và sống đức ái mục tử với lòng quảng đại, gia tăng mối hiệp thông với mọi người, đặc biệt là với các anh em linh mục.

1. Gắn bó với Đức Ki-tô: ĐGH Biển Đức16 nhắc nhở các linh mục “Liên kết với Đức Ki-tô, trò chuyện với Đức Ki-tôphải là ưu tiên mục vụ hàng đầu, đó chính là điều kiện cho công việc của chúng ta với tha nhân. Cầu nguyện không phải là chuyện bên lề, cầu nguyện thực sự là “nghề” của linh mục, để làm thay cho những người không biết cầu nguyện và không tìm được thời gian để cầu nguyện.

2. Cầu nguyện : Đời sống thiêng liêng của linh mục phải được thể hiện trong đời mỗi linh mục qua việc phụng vụ, cầu nguyện cá nhân, lối sống và thực hành các nhân đức Ki-tô giáo, những việc này khiến cho hoạt động mục vụ sinh hoa kết quả… Điều cần thiết là linh mục phải tổ chức đời sống cầu nguyện của mình để không bao giờ thiếu : việc cử hành Thánh thể hằng ngày, có chuẩn bị trước và tạ ơn sau lễ tương xứng; xưng tội thương xuyên và tiếp nối việc linh hướng đã có từ trong chủng viện và thường trước đó nữa.; cử hành đầy đủ và sốt sắng các giờ kinh phụng vụ, xét mình, thực hành tâm nguyện; lectio divina, những giây phút cầu nguyện lâu giờ với Chúa…Đặc biệt trong những kỳ tĩnh tâm và cấm phòng định kỳ; những thực hành đáng quý trong việc sùng mộ Đức Maria như lần hạt, gẫm đàng Thánh giá… đọc hạnh các thánh …Việc tổ chức thời gian tốt, vì yêu mến Chúa và Giáo Hội, chắc chắn sẽ giúp linh mục dễ dàng duy trì một đời sống cầu nguyện vững vàng.

3. Sống đức ái mục tử: Đức ái mục tử dạy linh mục sống như Chúa Giêsu, có cái nhìn, tâm tư, tình cảm như Chúa Giêsu, xử sự như Chúa với mọi người, nhất là những ai đang sống xa đàn, những người tội lỗi, những người bị thua thiệt. Tránh não trạng giáo sĩ trị rất đáng bị phê phán trong thời đại ngày nay.!

4. Hiệp thông với mọi người, nhất là với anh em linh mục: Thật là vui khi thấy trong một giáo phận các linh mục già , trẻ, thương yêu, gắn bó, đoàn kết với nhau, nâng đỡ nhau. Nhiệt huyết này còn được chia sẻ với anh chị em giáo dân của mình...

Linh mục phải luôn ở giữa mọi người và được mọi người cộng tác. Thánh Bosco thưa với Chúa: “ Hãy cho con các linh hồn, còn mọi sự khác xin lấy đi. ĐGH Phanxicô viết : “Chúng ta hãy lấy lại và đào sâu sự phấn khởi của mình, đào sâu niềm vui dịu ngọt và phấn khởi của việc Loan báo Tin Mừng, cả khi chúng ta phải gieo trong nước mắt…”

Để tránh sự suy giảm nhiệt huyết Đức cha giảng phòng đề nghị các linh mục :
• Ý thức  sự cần thiết  của cầu nguyện, cầu nguyện liên lỉ
• Để ý đến những dấu hiệu suy giảm nhiệt huyết như : ngủ quá nhiều, trì hoãn việc bổn phận nhất là bổn phận đạo đức, không trả lời hoặc quên các lần hẹn… thích ở một mình, tránh trách nhiệm, gắt gỏng, miệt mài với phim ảnh, truyền hình, vi tính, ăn uống lâu giờ…

Năng tâm sự với Chúa : “Ôi Chúa Giêsu, xin giúp con trở nên linh mục có trái tim giốnng như trái tim của Chúa, tràn đầy nhiệt huyết vì dân của Ngài”. Sau khi phục vụ với nhiệt huyết, linh mục cũng phải khiêm tốn thưa với Chúa rằng : “ Lạy Chúa, con chỉ là tôi tớ bất xứng và vô dụng, mới chỉ làm những gì phải làm”