LỊCH SỬ GIÁO HỘI QUA 100 TRÌNH THUẬT - (2-3): THỬ LỬA LẦN CUỐI; GH TRONG CƠN LỐC QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ

LỊCH SỬ GIÁO HỘI QUA 100 TRÌNH THUẬT - (2-3): THỬ LỬA LẦN CUỐI; GH TRONG CƠN LỐC QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ

 

LỊCH SỬ GIÁO HỘI QUA 100 TRÌNH THUẬT
(DIE GESCHICHTE DER KIRCHE IN 100 REPORTAGEN)

Tác giả: Josef Holzer
Người dịch: Đinh Phan Cư, Phạm Hồng Lam

TRÌNH THUẬT 2

THỬ LỬA LẦN CUỐI

Hoàng đế Diokletian (284-305) không đóng đô ở Rô ma, nhưng ở Nikomedia, gần thành phố mà về sau gọi là Konstantinôp (Thổ Nhĩ Kỳ). Từ hoàng cung, ông có thể quan sát những người Kitô tới dự lễ ở một nhà thờ gần đó. Họ là những người dân hiền hoà.

Đã từ lâu Diokletian thấy không có lý do gì để truy nã đám người này. Cho đến một hôm xảy ra chuyện Galerius thua vụ cá độ xem gan. Galerius đổ cho rằng vì có sự hiện diện của bọn ngoại đạo (Kitô hữu) nên thần đã không chứng lời cầu của ông. Galerius là vua phụ-tá và là con rể của Diokletian. Dưới áp lực liên tục của Galerius, Diokletian sau 19 năm trị vì cuối cùng đã phải ra một "chiến dịch tẩy sạch“ người Kitô. Theo ý Hoàng đế, chiến dịch phải tiến hành trong hoà bình và không đổ máu. Nhưng Galerius đã biến chiến dịch đó thành những đợt sóng chôn vùi tất cả những gì được gọi là Kitô.

Trước hết "làm sạch" trong cung

Ngày 23-2-303, Đế quốc Rôma ăn mừng lễ thần Terminus của họ (Terminus = "Kết thúc", "Cột biên giới").

Cũng có nghĩa là mừng sự "kết thúc" của Kitô giáo. Ngày đó, Diokletian cho phá sập nhà thờ ở Nikomedia, đốt các sách Kitô giáo và ra lệnh "tước quyền công dân những ai giữ các trách vụ danh dự và tước quyền tự do những kẻ làm nhân viên phục dịch“.

Diokletian mở đầu chiến dịch từ trong hoàng cung. Và ông ngỡ ngàng, vì ngay trong vòng thân cận ông đã có khá nhiều nhân viên có đạo. Ngay vợ ông Priska và con gái Valeria cũng đã theo Kitô giáo. Rồi ông cho điều tra quân đội và bộ máy công quyền. Ai không chịu tế thần thì bị đuổi. Ông buộc vợ và con gái tế thần. Một trong những nạn nhân Kitô đầu tiên là người đã cả gan bóc xé công khai “Lệnh làm sạch“ của Hoàng đế. Anh bị án dàn hoả. Nhưng anh chết không phải là vì Kitô hữu, nhưng bị gán cho tội phản quốc và khi vua.

Ngày nọ, hoàng cung bị cháy. Diokletian phải khó khăn lắm mới thoát ra được. Ông liền ra lệnh tra tấn hoặc giết toàn bộ gia công, quan chức và tư tế trong cung. Hai tuần sau, cung lại bị cháy. Theo lời kể của người chứng Laktantius, Giáo sư Đại học Nikomedia thì “chính Galerius đã tự tay châm lửa“ cả hai lần, nhưng ông đã đổ tội cho người Kitô. Và để cho sự việc thêm khả tín, ông đã nán lại trong cung cho tới giờ phút cuối mới tìm cách thoát ra.

Cung của phụ tá Galerius ở Sirmium (nay là Mitrovica ở Nam Tư). Nhưng ông ít khi ở đó, mà hầu hết thời gian lưu tại Nikomedia, bên cạnh Diokletian. Galerius cho rằng Kitô giáo là cản trở cuối cùng cho uy quyền tuyệt đối của ông. Ông hy vọng sau chiến dịch “làm sạch“ này sẽ làm sống lại được việc thờ phượng các thần Rôma. Ông ghét Kitô hữu một phần cũng vì ảnh hưởng của mẹ ông. Người đàn bà này ghét cay ghét đắng Ki tô giáo và không ngừng thúc con tiêu diệt.

Sau những vụ lộn xộn ở Nikomedia, năm 304, Diokletian ra thêm một dụ nữa: giết tức khắc những ai không chịu tế thần. Đây là khởi đầu cuộc bách hại Kitô giáo lần cuối cùng, nhưng dã man và được chuẩn bị về mặt pháp lý chu đáo nhất. Nó kéo dài 8 năm và khiến gần 1500 người chết.

Chiến dịch diệt đạo triệt để nhất được tiến hành trong vùng lãnh thổ của Galerius. Ông không từ một tàn bạo nào, miễn là để quyền uy mình được thêm vững.

Diokletian mất lúc về hưu

Hoàng đế Diokletian là con của một người nô lệ gốc Dalmatin. Khi làm đế, ông để dân chúng tôn thờ như một vị thần. Gặp ông, phải quì gối. Ban đầu ông trị vì cả Đế quốc Rôma. Về sau, năm 286, ông cử Maximian làm phụ đế (Augustus) coi sóc Đế quốc phía Tây, 7 năm sau ông lại phong thêm 2 vua phụ tá (Caesar): Galerius cùng ông cai trị phía Đông và Konstantius Chlorus cùng Maximian phía Tây. Konstantius Chlorus đóng dinh ở Trier (Đức). Diokletian cho chia lại Đế quốc ra làm nhiều vùng hành chính lớn - gọi là điạ phận. Năm 305, Diokletian từ chức vào tuổi 55 và lui về ở ẩn trong dinh Palatum (nay là Split ở Nam Tư). Dinh này lớn đến nỗi vào năm 1926 trên đống gạch vụn người ta còn đếm được 278 căn nhà. Năm 308, nội chiến bùng nổ, người ta cử Maximian về mời ông ra nắm quyền lại, nhưng ông trả lời Maximian: Nếu như ngươi thấy rau cải trong vườn ta tươi tốt như thế nào thì hẳn ngươi sẽ không nỡ yêu cầu ta bỏ cuộc sống thoải mái này.

Về hưu, ông còn phải mục kích cảnh vợ và con gái ông bị giết vì theo đạo Kitô khi đang trên đường về với ông. Sau đó, càng ngày ông càng quẫn trí. Ông chạy khắp dinh, miệng la lớn những tên người mà không ai hiểu.

Hai năm sau khi ra lệnh truy nã Kitô hữu, Diokletian về hưu. Cuộc bách hại cuối cùng vì thế xảy ra trong lúc gần như không còn có ông. Khi việc bắt bớ ngày càng trở nên tàn bạo thì Kitô hữu được một số người ngoại giáo bảo vệ và che giấu. Ở Đế quốc phía Tây, nơi phụ tá Konstantinus Chlorus cai trị, việc bách đạo chỉ qua loa. Ông này ra lệnh chỉ phá các nhà thờ thôi. Chút tự do cho Kitô giáo này vầ sau được con của ông là Konstantin mở rộng.

Khởi đầu với ngờ vực

Đạo Do thái được bảo vệ trong lãnh thổ Đế quốc Rôma. Kitô giáo nhờ vậy đã âm thầm lớn lên dưới bóng che của đạo này. Khi những cuộc bách hại nổ ra, Giáo Hội đã đủ sức để sống còn. Căn nguyên bắt bớ lúc đầu thường là do những ghen ghét và hận thù cá nhân, rồi cả những tố cáo nghi ngờ nhau. Chẳng hạn người ta tố Kitô hữu là bọn ăn thịt người và loạn luân, vì người ta hiểu sai câu nói: “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta…“. Những bách hại trong giai đoạn đầu cũng do nơi việc nghi ngờ Kitô hữu là kẻ gây ra các tai ương như cháy thành Rôma dưới thời Nêrô (năm 64), động đất, dịch, bệnh, mất mùa, hạn hán. Các điều vu vạ này xưa nay vẫn bị đổ diêu cho các nhóm thiểu số. Bao lâu chưa trở thành đe doạ cho quốc gia, Kitô hữu vẫn được dung túng, dù có xảy ra những cuộc bắt bớ có tính cách địa phương như ở Xili. Vì Kitô hữu là những người hiền hoà, đóng thuế đúng hạn, nên các hoàng đế đâm ra khó xử và có thái độ bất nhất trong một thời gian dài. Dưới thời hoàng đế Commodus, lên ngai năm 180, Kitô hữu được sự che chở khá mạnh của hoàng hậu Marcia. Thời Karacalla (211-217) nghe nói có cả một đơn vị quân đội người Kitô. Hoàng đế Philippus Arabs (244-249) trao đổi thư từ với nhà thông thái Kitô nổi danh Origenes, vì thế mà người ta nghi chính ông cũng là một Kitô hữu. Thời Septimius Severus (193-211) kém may mắn hơn. Tuy nhiên, ông này cũng để đạo tự do, chỉ cấm thần dân không được trở lại Kitô giáo mà thôi. Những người Kitô trong cung ông cũng được bảo vệ.

Bách hại triệt để

Chỉ tới khi hoàng đế Decius (249-251) lên ngôi, Kitô hữu mới bị truy nã một cách toàn diện trên khắp Đế quốc và với pháp lệnh rõ ràng. Năm 250, ông xuống lệnh bắt mọi thần dân Rôma phải thờ các thần của Đế quốc hoặc thờ hoàng đế (việc tế thờ hoàng đế được Domitian ban ra năm 96) và những ai không tuân sẽ bị trừng phạt. Tuy nhiên, Decius không buộc Kitô hữu phải bỏ đạo. Họ chỉ cần đứng trước bàn thờ và thẩy vài hạt trầm hương là đủ để được cấp chứng nhận đã tế thần. Trong vài trường hợp người ta có thể mua chứng nhận. Những người Kitô không chịu tế bị kết tội phản quốc và bất trung với hoàng đế. Tôn giáo và chính trị bị chồng chéo vào nhau một cách nguy hiểm.

Thời Đế quốc Rô ma xưa không có chuyện tiêu diệt tôn giáo - ... ... ... ... ... ... . Nhưng là sự tranh chấp giữa hai tôn giáo. Ai theo tôn giáo nào không cần biết. Quan trọng là người đó cũng phải thờ thần linh của quốc gia, thần mà người Rôma coi là hữu hiệu nhất. Việc bách hại nổ ra sau ngày dân đế quốc ăn mừng 1000 năm thành lập thành Rô ma vào năm 248. Trên mặt đồng bạc kỷ niệm dịp này, họ cho đúc chữ “Saeculum Novum“ để loan báo một “Thời đại mới“. Thời đại mới này một mặt cho thấy sự suy tàn của tôn giáo và phong tục Rôma, mặt khác cho thấy sự lớn mạnh của Kitô giáo. Cuộc bách hại Kitô của Decius là một nỗ-lực vô vọng nhằm cứu vãn thời đại cũ. Nó chấm dứt một năm sau đó, khi hoàng đế đưa quân tới sông Donau chống lại cuộc tấn công của rợ Goten và bị tử nạn ở đó. Hoàng đế Valerian (253-260) lại tiếp tục ra những dụ khác chống lại Kitô hữu. Năm 260, Hoàng đế Gallienus rút lại tất cả các dụ trên. Nhờ đó, người Kitô được yên cho tới khi Diokletian lên ngôi. Tới phiên ông này lại ra lệnh diệt Kitô hữu, vì ông cho rằng chỉ khi nào diệt được Giáo hội Kitô thì tôn giáo Rôma mới có cơ tồn tại.

Mẹ của Galerius đã ảnh hưởng trên các đợt bắt đạo dưới thời Diokletian và Galerius thế nào, thì cũng chính nhờ một người đàn bà, phu nhân của Galerius, mà những cuộc tàn sát Kitô hữu đã được chận đứng. Bà này không ngừng van xin người chồng mang bệnh ung thư hãy làm lành lại với “Chúa không thể thắng được của người Kitô“. Năm 311, vì thấy không thể dẹp được bằng bạo lực, Hoàng đế Galerius ra dụ khoan hồng, trong đó cuối cùng ông đã xin người Kitô hãy "nhớ tới sự thân thiện của trẫm" mà cầu nguyện cho ông.

 

 

TRÌNH THUẬT 3

GIÁO HỘI TRONG CƠN LỐC QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ

Sau khi Maximian từ chức, Konstantius Chlorus, biệt danh "Người mặt chì“, lên kế vị Phụ đế Đế quốc phía Tây. Lúc còn là một sĩ quan trẻ, Chlorus đi lại với Helena, cô chiêu đãi và là con gái của bà chủ quán rượu. Helena sinh cho ông một con trai ở Nisch, người sau này trở thành đại đế Konstantin. Vì luật thời đó không cho sĩ quan Rôma lấy người xứ thuộc địa, nên Konstantin được coi là con ngoại hôn. Cậu bé Konstantin sớm được gửi tới hoàng cung của chính đế Diokletian ở Nikomedia để huấn luyện quân sự. Khi Galerius lên thay Diokletian, ông cho giữ Konstantin lại làm con tin, vì sợ bố của cậu là Chlorus làm phản. Chlorus bấtmãn, vì đã không được chọn làm chính đế kế vị Diokletian.

Chiến thắng ở cầu Milvis

Ngày nọ, Konstantin trốn khỏi Nikomedia, chạy thục mạng nhiều tháng từ trạm thư này qua trạm thư khác, mỗi lần thay ngựa là cậu giết ngay con ngựa cũ mỏi mệt để những kẻ đuổi theo không thể dùng chúng để đuổi tiếp. Cuối cùng, cậu về tới dinh cha ở Britannia (Anh) bằng an. Khi phụ đế Konstantius mất, binh đoàn Rôma ở Britannia suy cử con ông là Konstantin lên kế vị. Cùng lúc ấy, chính đế Maximian cũng cử con mình là Maxentius ở Ý lên làm phụ đế Đế quốc phía Tây (để thay Konstantius). Konstantin vì vậy đã kéo quân về Rôma để ăn thua đủ với Maxentius.

Đạo binh của Maxentius gồm 170.000 bộ binh và 18.000 kị binh. Ngoài ra, anh còn có cả một thành chất đầy lương thực. Phía Konstantin chỉ có 90.000 bộ - và 8000 kị binh. Cuộc đụng độ xảy ra ở cầu Milvis, cây cầu bắc qua sông Tiber ngày nay vẫn còn. Konstantin thắng trận; Maxentius ngã ngựa té xuống sông chết đuối. Ngày 29-10, Konstantin tiến vào Rôma với danh nghĩa Phụ đế mới của Đế quốc phía Tây. Dân Rôma hân hoan reo mừng vì thoát được bạo chúa Maxentius.

Sự thường, tất cả các cuộc rước thắng trận đều kết thúc bằng một cuộc tế lễ ở điện Kapitol. Nhưng lần này, thay vì tế lễ, Konstantin cho xây một tượng người tay cầm thập giá có hàng chữ "Với dấu cứu độ này, bằng chứng thật của lòng cam đảm, Ta đã giải phóng thành của các ngươi khỏi tay các bạo chúa“. Konstantin tiến vào Rôma như một người bạn của tín hữu Kitô giáo.

Chuyện gì đã xảy ra?

Tại sao thắng trận mà Konstantin lại không tế lễ các thần Rôma? Hành động của vị hoàng đế mới này, về sau được Giám mục Eusebius ở Caesarea giải thích trong cuốn tiểu sử Konstantin, là do hậu quả của một điềm lạ ban ngày xuất hiện trên trời và một thị kiến ban đêm của Konstantin: "Khoảng xế trưa“ Konstantin ngửa mặt nhìn mặt trời và thấy "một hình thập giá chiến thắng kết tụ bằng ánh sáng với hàng chữ: “Cứ dấu này thì chiến thắng!“ Konstantin tỏ ra bối rối, Eusebius viết tiếp, bởi vì ông không hiểu dấu đó có nghĩa gì. Ông còn mải mê suy nghĩ thì đêm đổ xuống và ông ngủ thiếp đi. Trong giấc ngủ, ông thấy "Chúa Kitô xuất hiện với dấu lạ ban trưa và lệnh cho ông làm các thuẫn đỡ có hình dấu ấy mà xông vào trận“.

Có nhiều tài liệu viết về hiện tượng lạ này của Konstantin. Nhưng tựu trung, người thời đó và ngay cả Konstantin cũng xác tín là đã có ơn Chúa giúp.

Thái độ của Konstantin trước trận thắng quả đáng nói. Các sĩ quan và thầy tướng số đều khuyên không nên đánh, vì chắc chắn sẽ thua bởi quân số quá ít. Nhưng Konstantin đã bất chấp những lời bàn. Hẳn ông phải có lý do, và lý do đó hẳn mang tính cách tôn giáo. Ngày đó, Konstantin còn sùng kính "Thần mặt trời“ hay đã ngã về Chúa của Kitô hữu, điều này ngày nay vẫn không ai biết rõ. Cũng là điều dễ hiểu, khi người Kitô giáo xem thị kiến thập giá trên là căn nguyên thắng trận. Và nhờ trận thắng đó mà họ đã được tự do hành đạo.

Cha của ông cũng đã có thiện cảm với Kitô hữu

Chúng ta không lạ về thái độ của Konstantin đối với người Kitô, bởi ngay cha ông, Konstantius Chlorus, vì sức ép của vợ là thánh Helena, đã từ chối thi hành lệnh truy nã do Diokletian ban ra. Và khi bị người kế vị Diokletian hối thúc, ông cũng chỉ thi hành cho có lệ: Ông cho phá sập nhà thờ, nhưng luôn báo trước cho các giáo sĩ biết để họ kịp thời mang các đồ thánh đi. Chlorus chưa bao giờ ra lệnh truy nã tín hữu Kitô.

Konstantius không phải là tín đồ Kitô, nhưng, cũng như dân Dothái và Kitô giáo, ông thờ độc thần, đó là “Thần mặt trời“ (Sol Invictus). Thời đó, tín ngưỡng đa thần là tôn giáo chính thức ở Hylạp và Đế quốc Rôma. Các tôn giáo ở Assyri, Babylon và Aicập cũng chịu ảnh hưởng của đa thần giáo. Cũng vì thờ “Thần mặt trời toàn thắng“ nên hình ảnh mặt trời có vai trò đặc biệt trong thị kiến của Konstantin. Thập giá cũng không phải là cái gì lạ đối với Konstantin, vì lúc thiếu thời trong hoàng cung Nikomedia, ông đã có dịp làm quen với nhiều Kitô hữu.

Một lý do nữa khiến Konstantin có cảm tình với Kitô giáo là vì những suy nghĩ thực tiễn về chính trị. Ông hiểu rằng năng lực của thần dân ngoại đã cạn và nguồn uy quyền tương lai hẳn nằm trong cái Giáo Hội mới đang phát triển. Chống lại nó do đó là điều thiếu khôn ngoan.

"Dụ Milano" bảo đảm tự do tín ngưỡng

Diokletian chia quyền cai trị Đế quốc cho 4 người. Hai hoàng đế (Augustus) là chính đế coi Đế quốc phía Đông, đóng cung ở Byzanz (về sau gọi là Konstantinôp) và phụ đế coi Đế quốc phía Tây, đóng đô ở Rôma. Phụ tá của hai hoàng đế là hai vua (Caesar). Sau khi thắng Maxentius, Konstantin một mình trị vì cả Đế quốc phía Tây. Phía Đông do Licinius cai quản. Năm 313, Konstantin và Licinius ra một “Dụ” chung ở Milano, cho phép "ai muốn theo đạo nào tuỳ ý, hầu thần thánh (bất kể thần thánh nào) trên trời có thể chứng tỏ cho chúng tôi thấy lòng tốt và độ lượng của thần. Vì vậy - cả hai lãnh tụ tuyên bố - chúng tôi thực lòng và thẳng thắn tuyên bố rằng sẽ không ai bị cấm đoán khi họ muốn vào đạo Kitô“.

Dụ Milano mở cửa cho tự do tôn giáo trên khắp Đế quốc Rôma, một tài liệu bảo đảm tự do lương tâm tuyệt đối.

Đế quốc trên nền tảng Kitô giáo

Ý của Konstantin là muốn đưa Đế quốc ra khỏi nền văn hoá cạn kiệt sức sống hiện tại để phục hưng trên nền tảng một văn hoá mới là văn hoá Kitô giáo với một căn bản đạo đức mới. Giáo Hội, từ nay, có được cơ hội đóng góp tính nhân bản của mình lên đời sống xã hội. Nhờ có Ki tô giáo mà Konstantin bảo vệ hôn nhân và gia đình, bãi bỏ các hình phạt dã man như đóng đinh tội nhân, đập bể xương ống chân sau khi chịu án tử, nung sắt trên trán, đấu kiếm và những trò chơi trái thuần phong khác. Cũng nhờ Giáo Hội mà Konstantin ân giảm cho số phận nô lệ và tù nhân. Năm 321, ông ra lệnh lấy ngày chủ nhật làm ngày lễ và sau đó cấm làm việc nặng trong ngày đó. Tóm lại, Nhà nước cấm hầu như tất cả những gì Giáo Hội cấm. Luật lệ Giáo Hội gần như là một với luật lệ thế quyền.

Dưới thời Hoàng đế Theodosius, năm 381, Kitô giáo được nâng lên thành "Quốc-giáo“. Nhưng cũng từ đây, Giáo Hội rơi vào một nguy hiểm mới, vì sự gắn bó giữa thế quyền và thần quyền sẽ trói cả hai vào một thân phận chung. Từ nay, Nhà nước bị đe doạ cũng có nghĩa là Giáo Hội bị đe doạ và ngược lại.

Mặt trái của biến cố

Việc Konstantin trả tự do cho Giáo Hội không chỉ mang lại lợi điểm. Người ta từ nay từng đoàn từng lũ kéo nhau vào đạo mà chẳng cần hiểu đạo là gì. Họ theo đạo chỉ vì gió đã đổi chiều. Cho tới lúc đó, nhờ bách hại mà Giáo Hội tránh được các yếu tố ngoại giáo tràn vào. Nhưng giờ đây, chẳng cần “rửa tội bằng lửa” nữa, mà chỉ cần một lời tuyên xưng môi miệng là đủ. Một hiểm hoạ đặc biệt quan trọng: đó là ảnh hưởng của hoàng đế trên Giáo Hội. Konstantin tự xưng là "Giám mục ngoại vụ“. Những người kế vị ông nhúng tay trực tiếp vào chuyện nội bộ Giáo Hội.

Quà tặng Konstantin cho Giáo Hội thật lớn lao và ý nghĩa. Giáo sĩ được miễn thuế và công dịch, chẳng hạn như không phải đi quân dịch. Hàng giáo sĩ cao cấp được ông trả lương, tặng bổng lộc và trao quyền xử án việc hộ. Ông tặng Giáo hoàng Miltiađê điện Lateran, là nơi cư ngụ của các giáo hoàng cho tới cuối thế kỷ 14. Qua việc tặng điện Lateran, Konstantin đã nâng cao địa vị đời và địa vị xã hội của các giáo hoàng. Trên điện này, Konstantin cũng đã cho xây ngôi thánh đường đầu tiên để kỷ niệm chiến thắng Maxentius. Năm 325, Konstantin cho xây Dền thánh Phêrô ngay trên mộ ngài. Các nguyện đường khác cũng được xây ở Giêrusalem (Nhà thờ Mộ Thánh), ở Bêlem (Nhà thờ Giáng Sinh) và ở Konstantinôp (Nhà thờ Hagia Sophia). Đối lại, cái giá mà Giáo Hội phải trả: phục vụ sự thống nhất và quyền lực của Nhà nước.

 


Các thủ phủ quan trọng của Đế quốc Rô ma

1. Londonium (London)

2. Lutetia (Paris)

3. Augusta Treverorum (Trier)

4. Colonia Agrippina (Koeln)

5. Moguntiacum (Mainz)

6. Augusta Vindelicorum (Augsburg)

7. Regina Castra (Regensburg)

8. Vindobona (Wien)

9. Verona

10. Toletum (Toledo)

11. Karthago

12. Syracusae (Syrakus)

13. Apollonia

14. Athen

15. Odessa

16. Byzantium (Byzanz, Konstantinôp, Istanbul)

17. Ancyra (Angora, Ankara)

18. Trapecus (Trapezunt)

19. Palmyra

20. Ninus (Ninive)

21. Babylon

22. Alexandria

23. Caesaria

24. Jerusalem

 


Đế quốc Rôma thời Hoàng đế Augustus
(thời Đức Giêsu Giáng Sinh)

BTGH giới thiệu
(còn tiếp nhiều kỳ)

 

Nguồn: truyenthongconggiao