Một vài suy tư về cách ngừa thai tự nhiên
- Thứ năm - 06/11/2025 16:52
- In ra
- Đóng cửa sổ này
MỘT VÀI SUY TƯ VỀ CÁCH NGỪA THAI TỰ NHIÊN BẰNG PHƯƠNG PHÁP TIẾT DỤC ĐỊNH KỲ

Cách đây vài tuần, tôi có viết một bài về chủ để Tránh Thai và Quyền Làm Cha Mẹ có Trách Nhiệm. Bài viết này trước tiên đã được Website của HĐGMVN[1] và Trang Web của Thư Viện HVCGVN,[2] cũng như một số các Website Công giáo khác mà tôi hay gởi bài viết cho họ để phổ biến. Sau đó tôi đã cho cập nhật và cho đăng lại tại Website của HĐGMVN với tựa đề: “Tránh Thai và Quyền Làm Cha Mẹ có Trách Nhiệm” (Bản cập nhật), vào ngày 23 tháng 10 năm 2025.[3]
Hôm nay tôi muốn tiếp tục chia sẻ với quý độc giả Công giáo về một điều mà tôi nhận thấy đây quả thực là mối bận tâm của nhiều tín hữu Công giáo tại Việt Nam cũng như ở hải ngoại qua các cơ quan truyền thông đại chúng. Đó chính là mối ưu tư và bận tâm liên quan đến các phương pháp ngừa thai, bao gồm các phương pháp tự nhiên và nhân tạo.[4] Câu hỏi mà các tín hữu Công giáo thường xuyên thắc mắc và đặt ra cho các thuyết trình viên, đó chính là: đâu là các phương pháp tránh thai hay còn gọi là ngừa thai[5] mà Giáo hội Công giáo công nhận như là một phương pháp kế hoạch hóa gia đình, và đâu là những pháp pháp ngừa thai nhân tạo mà giáo hội khuyên các cặp vợ chồng không nên sử dụng, vì những lý do mà giáo hội đã giải thích qua các giáo huấn và qua các thông điệp, ví dụ cụ thể như trong Thông Điệp Casti Connubii.[6]
Thông điệp Casti Connubii (“Hôn nhân Kitô giáo”), được Đức Giáo hoàng Piô XI ban hành ngày 31 tháng 12 năm 1930, là một văn kiện quan trọng của Giáo hội Công giáo về hôn nhân và luân lý tính dục. Ý nghĩa và mục đích chính của thông điệp này có thể tóm lược như sau:
1. Bảo vệ sự thánh thiện và cao quý của hôn nhân
-
Khẳng định hôn nhân là một bí tích, có nguồn gốc từ Thiên Chúa, mang phẩm giá cao quý và thiêng liêng.
-
Hôn nhân không chỉ là một khế ước tự nhiên, mà còn là một thực tại siêu nhiên được Chúa Kitô nâng lên hàng bí tích.
2. Xác định mục đích của hôn nhân
-
Mục đích chính: sinh sản và giáo dục con cái.
-
Mục đích phụ: sự hỗ trợ lẫn nhau giữa vợ chồng, phát triển tình yêu vợ chồng, và phương thế hợp pháp để sống trọn ơn gọi Kitô hữu.
3. Lên án những sai lầm về hôn nhân và tính dục
-
Mạnh mẽ lên án việc ngừa thai nhân tạo, gọi đó là hành vi đi ngược lại luật tự nhiên và ý định của Thiên Chúa.
-
Phản đối phá thai, coi đó là tội ác nghiêm trọng.
-
Bác bỏ các quan niệm làm giảm giá trị của hôn nhân, chẳng hạn coi hôn nhân chỉ là một khế ước dân sự hoặc một quan hệ đơn thuần dựa trên cảm xúc.
4. Khẳng định giá trị của luật tự nhiên và luật Thiên Chúa
-
Thông điệp nhấn mạnh rằng trong đời sống hôn nhân, con người không được tùy tiện quyết định theo ý muốn riêng, mà phải tuân theo luật tự nhiên và luật luân lý do Thiên Chúa thiết lập.
5. Khích lệ các đôi vợ chồng sống thánh thiện
-
Kêu gọi vợ chồng Kitô hữu hãy trung thành, yêu thương và nâng đỡ nhau.
-
Coi hôn nhân Kitô giáo là một con đường nên thánh trong đời sống gia đình.
Nói cách khác, sự khác nhau giữa tiết dục theo chu kỳ kinh nguyện hay còn gọi là tiết dục định kỳ, và tất cả những hình thức ngừa thai khác, hệ tại ở điểm này: là tiết dục định kỳ đóng vai trò quan trọng hay là được ưu tiên hơn vào những thời kỳ vô sinh trong chu kỳ kinh nguyệt của người nữ và chỉ được giao hợp trong những thời điểm này;[12] những hình thức ngừa thai khác cho phép giao hợp bất cứ lúc nào, nhưng có việc can thiệp cách nào đó vào hiệu quả của hành vi, như nhằm vô hiệu hóa bất cứ sự thụ thai nào. Hơn nữa, vợ chồng hợp luật khi thực hiện sự tiết dục định kỳ và không giao hợp trong những thời kỳ có thể thụ thai thì được xem như họ chứng tỏ mình tuân thủ “một tình yêu chân thật và rất chân chính” (HV, #16). Do vậy, dường như rõ rệt, là ít ra phần giải thích của Giáo hội Công giáo về việc thừa nhận phương pháp tiết dục định kỳ – xuất phát từ sự kiện là việc thực hành này bảo đảm và đòi buộc vợ chồng duy trì thói quen có kỷ luật bản thân – và biết tự chủ trong mối tương giao vợ chồng.
Về điểm sau cùng vừa được đề cập ở trên, tôi trộm nghĩ: chỉ có những ai thiếu suy nghĩ thì mới coi nhẹ vai trò của kỷ luật, vốn đóng vai trò quan trọng trong sự trưởng thành cá nhân và đời sống vợ chồng. Tuy nhiên, cũng cần phải nói rằng, trong đời sống vợ chồng, họ cũng còn biết bao nhiêu việc khác phải lo toan, và đôi khi những công việc này vượt quá sự hy sinh hãm mình hằng ngày của họ, khiến họ rất khó khăn và vất vả để có thể chu toàn tất cả mọi trách nhiệm trong tư cách là vợ hoặc chồng, là cha hoặc mẹ. Bởi vậy, tôi thiết nghĩ, những người đang sống trong bậc sống gia đình, họ cần được sự cảm thông và đối xử một cách quảng đại hơn. Vì có lúc sự tiết dục định kỳ đi đến độ gây nên sự căng thẳng tâm lý và tinh thần cộng dồn trên vợ chồng, đặc biệt nơi người vợ, và tạo nên mối đe dọa cho sự chung thủy trong hôn nhân và do vậy, sau cùng gây nguy hại cho hạnh phúc của con cái. Một số người đã gợi ý mong Giáo Hội nên xét lại chủ trương cứng nhắc, cho là chỉ có phương pháp ngừa thai dựa theo chu kỳ kinh nguyệt hay một vài phương pháp kế hoạch hóa việc sinh sản theo cách tự nhiên, là các phương cách hợp lệ mà vợ chồng có thể áp dụng để kế hoạch hóa gia đình.[13]
Chắc chắn việc phân biệt giữa ngừa thai tự nhiên và ngừa thai nhân tạo đã bị liên tục thách đố. James T. Burtchaell đã khéo léo cho thấy những khó khăn thường gặp khi áp dụng tiết dục định kỳ vốn được xem là hình thức ngừa thai “tự nhiên.”[14] Quan điểm của Burtchaell không phải chối bỏ những chu kỳ sinh học vốn là thành phần của tính dục phụ nữ; đúng hơn, ông muốn xác nhận sự kiện tính dục con người là một thực tế bao quát hơn là một thực tế sinh học đơn thuần.
Giáo Hội nên xét lại lập trường cấm đoán các hình thức ngừa thai khác.[18]
“Trong các vấn đề thuộc đức tin và luân lý, các Giám mục giảng dạy nhân danh Chúa Kitô. Do đó, các tín hữu có bổn phận phải đón nhận chúng với thái độ kính cẩn tuân phục. Mọi người phải lấy ý chí và lý trí mà kính cẩn tuân phục một cách đặc biệt những giáo huấn chính thức của Giám mục Rôma, dù khi ngài không tuyên bố từ tông tòa (ex cathedra).”
Do đó, khi đối diện với các giáo huấn khả ngộ có thẩm quyền của Giáo hội, tình huống của các tín hữu có thể được diễn tả như sau: các tín hữu được mời gọi từ thâm tâm để chấp nhận và vâng phục giáo huấn chính thức của Giáo hội với tinh thần có trách nhiệm, nhưng đồng thời, chúng ta vẫn được phép không tán thành và không vâng phục các giáo huấn đó, cũng được dựa trên tinh thần có trách nhiệm. Rõ ràng, những điều kiện cho sự bất đồng thuận như thế cần phải được trình bày một cách rõ ràng và cẩn trọng.
Khẳng định việc bất đồng quan điểm với giáo huấn của Giáo hội trong tinh thần trách nhiệm là hợp pháp, nghĩa là công nhận thẩm quyền giảng dạy của Giáo hội cũng có giới hạn.
John L. McKenzie đã ghi nhận một số giới hạn rõ rệt đã từng xảy ra:
“Chức vụ giảng dạy được trao ban không phải để thống trị hay kiểm soát sự hiểu biết của thế giới về phương diện tri thức hay luân lý. Chức vụ giảng dạy được ủy thác không phải để sai khiến người khác phải làm gì, nhưng hướng dẫn họ đưa ra quyết định đúng đắn. Giáo hội thực hiện cách hoàn hảo những gì được Chúa Kitô trao phó. Ngài không trao quyền cho Giáo hội để trở nên thầy dạy cho tất cả mọi người hay trở thành lương tâm của mọi người. Nhiều khi cứ mãi nỗ lực thực thi những điều bất khả mà các thừa tác viên của Giáo hội lại bỏ quên đi những điều khả dĩ làm được.”[28]
Tất cả mọi thành phần trong Giáo hội, kể cả Giáo quyền, đều được Lời Chúa soi sáng hướng dẫn (Dei Verbum, số 10), và chỉ khi nào Giáo hội trung thành rao giảng sứ điệp của Chúa Kitô, thì khi đó Giáo hội cũng thực sự phục vụ dân Chúa. Giáo quyền được mời gọi để thông truyền chân lý của Thiên Chúa, và trong khi thi hành sứ mệnh ấy, Giáo hội được Chúa Thánh thần trợ giúp. Nhưng giáo quyền không được Thiên Chúa trao quyền để tạo ra chân lý hoặc tìm kiếm một điều chắc chắn khi việc ấy không khả dĩ. Do vậy, Công đồng Vatican II trong hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới hôm nay lưu ý:
“Mặc dầu Giáo hội là quản thủ kho tàng Lời Chúa để từ đó rút ra những nguyên tắc luân lý và tôn giáo, nhưng không phải lúc nào Giáo hội cũng có ngay câu trả lời cho mọi vấn đề cụ thể.” (X. Gaudium et Spes, số 33).
Văn kiện tiếp tục nhắc nhở giáo dân rằng:
“Với một lương tâm đã được đào luyện cách thích hợp, họ phải đem luật Chúa thấm nhập vào cuộc sống xã hội trần gian.” Hơn nữa, người giáo dân được khuyên nhủ là cũng đừng vì thế mà nghĩ rằng các chủ chăn có đủ thẩm quyền chuyên môn để có thể đưa ra ngay một giải pháp cụ thể cho từng vấn đề đang diễn ra, kể cả những vấn đề quan trọng; cũng đừng lầm tưởng đó là sứ mệnh chỉ dành cho các chủ chăn.” (X. Gaudium et Spes, số 43).
Sau cùng, Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới hôm nay đã khẳng định rằng: “mọi tín hữu, giáo sĩ và giáo dân, cần có sự tự do chính đáng để nghiên cứu, suy tư cũng như để mạnh dạn và khiêm tốn trình bày quan điểm trong các lĩnh vực chuyên môn của họ.” (X. Gaudium et Spes, số 62).
Như vậy rõ ràng là lối vâng phục triệt để mà không đặt vấn đề, thiếu óc phê phán là cách diễn tả không thể chấp nhận được cho việc kính cản tuân phục mà Công đồng Vaticanô II yêu cầu nơi các tín hữu, khi đối diện với các giáo huấn khả ngộ (nghĩa là chưa chắc không thể không sai lầm) của huấn quyền. Sự kiện này, cùng với việc nhận thức rằng quyền giảng dạy luân lý của Giáo hội luôn được coi như chân lý, nhưng vẫn có thể bị đảo ngược bởi các lý chứng đối nghịch, giải thích tại sao, “nếu có đầy đủ lý lẽ và bằng chứng vững chắc, một người Công giáo có thể chọn một lập trường bất đồng với một vài khía cạnh luân lý trong các giáo huấn của Giáo hội.”[29]
Công đồng Vatican II đã khẳng định tính ưu việt của lương tâm (the primacy of conscience) trong mối liên hệ đúng đắn giữa lương tâm và huấn quyền giảng dạy trong các vấn đề luân lý.
Ở đây ta cũng cần nói thêm về quan điểm cho rằng giáo huấn chính thức của Giáo hội về các vấn đề luân lý là chuẩn mực đối với lương tâm Công giáo, không có nghĩa điều đó sẽ trở thành cơ sở độc quyền cho các phán quyết luân lý, mà đúng hơn, việc ấy có nghĩa là người Công giáo nên dành sự ưu tiên trước hết cho các điều huấn quyền đã dạy hơn là các ý kiến khác. Điều đó cũng có nghĩa là người Công giáo phải xem các giáo huấn của Giáo hội như một yếu tố quan trọng, góp phần trong việc đưa ra các quyết định, mặc dù nó có thể không phải là yếu tố quyết định tiên quyết, khi mọi sự đều được xem xét. Hơn nữa, người Công giáo cần phải chân thành nỗ lực để vượt qua bất kỳ ý kiến trái ngược nào, hầu có thể đạt được sự đồng thuận đối với các giáo huấn chính thức. Tuy nhiên, trong thực tế khi áp dụng giáo huấn của Giáo hội cho một tình huống xung đột,[30] các yếu tố khác cũng phải được xem xét, ví dụ như hoàn cảnh, điều kiện hay ý hướng cùng với sự nhận thức chủ quan của tác nhân, sao cho phù hợp với các giá trị cơ bản do giáo huấn đề ra, vừa để đo lường hành vi cụ thể đã được quy định bởi các huấn lệnh của Giáo hội.
Để đi đến phần kết luận cho bài viết này, tôi muốn đưa ra mộtví dụ cụ thể sẽ làm sáng tỏ những gì mà tôi vừa mới trình bày ở trên. Một cặp vợ chồng Công giáo chấp thuận thẩm quyền giáo huấn của Giáo hội về đời sống hôn nhân và gia đình và muốn sống phù hợp với các quy tắc đó, tuy nhiên, họ thâm tín và biết rằng với những hoàn cảnh của họ hiện tại, điều tốt nhất mà họ có thể làm để bảo vệ và gìn giữ hạnh phúc mái ấm gia đình là họ cần sử dụng các phương pháp ngừa thai nhân tạo như là phương cách để tránh thai. Họ chưa thể sống với những gì mà giáo huấn chính thức của Giáo hội giảng dạy về hôn nhân, dựa trên các giới hạn về khả năng luân lý cũng như các yếu tố giới hạn trong hoàn cảnh đời sống hôn nhân gia đình hiện nay. Sự chọn lựa sử dụng phương pháp tránh tránh thai nhân tạo là một phán quyết khôn ngoan của họ trong giai đoạn này. Đặc biệt, khi vợ chồng có những lý do chính đáng và sau khi đã lắng nghe ý kiến trái chiều và tham khảo các vị chuyên môn. Nhất là sau khi đã cầu nguyện trước mặt Chúa với lương tâm ngang thẳng và thành thật trước khi đi đến quyết định. Điều đó ta không nên lẫn lộn hoặc xem như đồng nghĩa với việc bất đồng quan điểm với giáo huấn của Giáo hội.[31]
Lm Phêrô Trần Mạnh Hùng, STD.
Giáo sư thần học luân lý tại Đại học Công giáo - The University of Notre Dame Australia.
Tác giả giữ bản quyền©2025.
Ý NGHĨA QUAN TRỌNG CỦA THÔNG ĐIỆP “HUMANAE VITAE – SỰ SỐNG CON NGƯỜI”
Thông điệp “Humanae Vitae – Sự sống con người” (Do Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, ban hành ngày 25 tháng 7 năm 1968) là một văn kiện rất quan trọng trong giáo huấn Công giáo về hôn nhân, tình yêu và sinh sản. Ý nghĩa nổi bật của thông điệp có thể tóm lược như sau:
1. Khẳng định phẩm giá của hôn nhân và tình yêu vợ chồng
-
Hôn nhân được nhìn nhận như một sự kết hợp trọn vẹn, trung thành và bất khả phân ly.
-
Tình yêu vợ chồng vừa có chiều kích hiệp thông (yêu thương – tự hiến cho nhau) vừa có chiều kích sinh sản (mở ra cho sự sống).
2. Nguyên tắc luân lý về truyền sinh
-
Thông điệp nhấn mạnh đến mối liên kết bất khả tách rời giữa tính kết hợp (unitive) và tính truyền sinh (procreative) trong hành vi vợ chồng.
-
Bất kỳ hành động nào cố ý phá vỡ sự gắn bó này (như các hình thức ngừa thai nhân tạo) đều bị xem là nghịch lại với luật tự nhiên và thánh ý Thiên Chúa.
3. Phân biệt rõ ràng giữa ngừa thai nhân tạo và ngừa thai tự nhiên
-
Ngừa thai nhân tạo (thuốc, bao cao su, triệt sản…) bị bác bỏ vì can thiệp cách giả tạo vào tiến trình sinh học.
-
Ngừa thai tự nhiên (như tiết dục định kỳ) được chấp nhận khi thực hiện với tinh thần trách nhiệm, tôn trọng quy luật tự nhiên và phẩm giá con người.
4. Kêu gọi tinh thần làm cha mẹ có trách nhiệm
-
Các đôi vợ chồng được mời gọi cân nhắc hoàn cảnh kinh tế, xã hội, sức khỏe, để đưa ra quyết định sinh con cách tự do, chín chắn, có trách nhiệm trước Thiên Chúa và xã hội.
-
Đây không phải là tránh né con cái, nhưng là sự quản lý khôn ngoan ơn gọi làm cha mẹ.
5. Tầm nhìn tiên tri
Đức Phaolô VI đã cảnh báo trước một số nguy cơ nếu nhân loại phổ biến việc sử dụng các biện pháp ngừa thai nhân tạo:
-
Suy giảm đạo đức tình dục (dễ dẫn đến lối sống buông thả).
-
Gia tăng bất trung trong hôn nhân.
-
Nguy cơ nhà nước lạm quyền can thiệp vào quyền sinh sản của gia đình.
-
Sự tha hóa phẩm giá phụ nữ, bị coi như đối tượng khoái lạc hơn là bạn đường bình đẳng.
6. Ý nghĩa lâu dài
-
Xác định một trong những nền tảng quan trọng của luân lý tính dục và hôn nhân Công giáo.
-
Trở thành văn kiện tham chiếu căn bản cho các giáo huấn sau này (như Tông huấn Familiaris Consortio của Gioan Phaolô II, Amoris Laetitia của Đức Phanxicô).
-
Đặt nền cho đối thoại giữa Giáo hội và thế giới hiện đại về tình yêu, sự sống và nhân phẩm.
CÁC PHƯƠNG PHÁP NGỪA THAI TỰ NHIÊN ĐƯỢC GIÁO HỘI CÔNG GIÁO CHẤP NHẬN
Giáo hội Công giáo không chấp nhận các phương pháp ngừa thai nhân tạo, nhưng cho phép các cặp vợ chồng sử dụng các phương pháp ngừa thai tự nhiên trong tinh thần trách nhiệm và tôn trọng luật tự nhiên.
1. Các phương pháp ngừa thai tự nhiên được Giáo hội Công giáo chấp nhận
a. Phương pháp Ogino – Knaus (Lịch)
-
Dựa trên việc tính toán chu kỳ kinh nguyệt để xác định ngày rụng trứng.
-
Tránh quan hệ vợ chồng vào những ngày dễ thụ thai.
b. Phương pháp quan sát chất nhầy cổ tử cung (Billings)
-
Người vợ theo dõi sự thay đổi dịch nhầy ở cổ tử cung, vì nó thay đổi theo thời gian rụng trứng.
-
Những ngày dịch nhầy trong, dai, co giãn nhiều là ngày dễ thụ thai.
c. Phương pháp đo thân nhiệt cơ bản (Basal Body Temperature – BBT)
-
Người vợ đo thân nhiệt vào buổi sáng mỗi ngày.
-
Sau rụng trứng, thân nhiệt thường tăng nhẹ (0,2 – 0,5°C), báo hiệu giai đoạn ít có khả năng thụ thai.
d. Phương pháp kết hợp (Sympto-Thermal Method)
-
Kết hợp nhiều dấu hiệu: chu kỳ kinh nguyệt, chất nhầy cổ tử cung, thân nhiệt cơ bản và những thay đổi sinh lý khác (đau bụng, căng ngực…).
-
Đây là phương pháp tự nhiên được đánh giá chính xác nhất hiện nay.
2. Những sự bất thuận tiện khi sử dụng các phương pháp ngừa thai tự nhiên
-
Đòi hỏi kỷ luật cao
-
Cần sự hợp tác chặt chẽ giữa hai vợ chồng.
-
Người vợ phải kiên trì theo dõi dấu hiệu sinh lý hằng ngày.
-
-
Hạn chế sự tự do trong đời sống vợ chồng
-
Có những thời điểm (giai đoạn dễ thụ thai) buộc phải kiêng quan hệ, gây ra khó khăn nếu vợ chồng muốn gần gũi.
-
-
Thiếu chính xác nếu không áp dụng đúng cách
-
Chu kỳ kinh nguyệt không đều, căng thẳng, bệnh tật, hoặc thay đổi sinh hoạt có thể làm sai lệch kết quả.
-
-
Ảnh hưởng đến tâm lý
-
Một số cặp vợ chồng cảm thấy mất tự nhiên, bị giới hạn, hoặc khó duy trì sự tự phát trong quan hệ vợ chồng.
-
-
Khó thực hành trong bối cảnh xã hội hiện đại
-
Nhịp sống bận rộn, áp lực công việc, thiếu kiến thức y khoa… khiến nhiều cặp đôi khó áp dụng chính xác.
-
Nói tóm lại:
Giáo hội Công giáo cho phép sử dụng các phương pháp ngừa thai tự nhiên sau đây:
-
Phương pháp Ogino Knaus, tính theo lịch của chu kỳ kinh nguyệt phụ nữ,
-
Phương pháp quan sát chất nhầy cổ tử cung - The Billings Method),[32]
-
Phương pháp đo thân nhiệt hoặc
-
Phương pháp kết hợp.
CÁC PHƯƠNG PHÁP VÀ DỤNG CỤ NGỪA THAI NHÂN THẠO
Các phương pháp và dụng cụ ngừa thai nhân thạo mà Giáo hội Công giáo hiện nay không cho phép sử dụng để tránh thai.
1. Phương pháp rào cản (Barrier Methods)
Ngăn không cho tinh trùng gặp trứng.
-
Bao cao su nam (condom)
-
Bao cao su nữ
-
Màng chắn âm đạo (diaphragm)
-
Mũ cổ tử cung (cervical cap)
2. Phương pháp nội tiết (Hormonal Methods)
Dùng hormone tổng hợp để ức chế rụng trứng, làm đặc chất nhầy cổ tử cung, hoặc thay đổi niêm mạc tử cung.
-
Thuốc tránh thai hằng ngày (viên phối hợp estrogen + progestin, hoặc chỉ có progestin)
-
Thuốc tránh thai khẩn cấp (emergency pills)
-
Miếng dán tránh thai (contraceptive patch)
-
Vòng âm đạo chứa hormone (vaginal ring)
-
Thuốc tiêm tránh thai (progestin injection)
-
Que cấy tránh thai (implant dưới da)
3. Phương pháp triệt sản (Sterilization)
Biện pháp vĩnh viễn, không thể đảo ngược.
-
Ở nữ: Thắt hoặc cắt ống dẫn trứng (tubal ligation).
-
Ở nam: Thắt ống dẫn tinh (vasectomy).
4. Các phương pháp khác
-
Thuốc diệt tinh trùng (spermicides: gel, kem, bọt, viên đặt âm đạo).
-
Kết hợp nhiều phương pháp cùng lúc (ví dụ: bao cao su + thuốc tránh thai).
NHỮNG TÁC ĐỘNG TÂM LÝ TIÊU CỰC CỦA PHƯƠNG PHÁP TIẾT DỤC THEO CHU KỲ. NHẬN XÉT CỦA TIỀN SĨ JOHN CANAVAGH[33]
Trong các ấn phẩm khác, tôi đã mô tả những tác động tâm lý tiêu cực của phương pháp tiết dục theo chu kỳ (Rhythm) vốn phát sinh từ những thất bại của nó. Xem John R. Cavanagh, ‘A Special Marriage Report on Rhythm,’ Marriage Magazine, tháng 8 năm 1966. Ông ta đã diễn tả các ảnh hưởng tiêu cực về mặt tâm sinh lý đối với các cặp vợ chồng khi áp dụng phương pháp này.
1. Lo lắng và căng thẳng thường trực
-
Người vợ và chồng phải tính toán ngày an toàn một cách nghiêm ngặt.
-
Nỗi sợ “tính sai” dẫn đến việc mang thai ngoài ý muốn gây ra sự căng thẳng kéo dài.
-
Vợ chồng dễ rơi vào trạng thái thiếu thoải mái trong quan hệ, vì luôn canh cánh lo lắng về hậu quả.
2. Ảnh hưởng đến sự thân mật vợ chồng
-
Việc buộc phải kiêng cữ trong những ngày dễ thụ thai có thể làm gián đoạn sự tự phát tự nhiên của tình yêu vợ chồng.
-
Cavanagh nhận xét rằng điều này có thể tạo ra khoảng cách, thậm chí cảm giác bị từ chối trong đời sống tình dục.
3. Mặc cảm và tội lỗi khi thất bại
-
Nếu mang thai xảy ra ngoài dự tính, các cặp đôi có thể đổ lỗi cho nhau hoặc cảm thấy bản thân yếu kém.
-
Nhiều người rơi vào tình trạng tội lỗi về đạo đức hoặc mặc cảm thất bại, vì cho rằng mình không đủ kỷ luật để giữ luật Hội Thánh.
4. Ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần
-
Việc phải thường xuyên lo nghĩ, ghi chép, theo dõi ngày tháng… gây nên stress tâm lý.
-
Một số trường hợp có thể dẫn đến trầm cảm nhẹ hoặc căng thẳng hôn nhân khi thất bại lặp lại nhiều lần.
5. Mất niềm tin vào phương pháp và vào nhau
-
Khi Rhythm thất bại, nhiều cặp vợ chồng mất lòng tin vào phương pháp tự nhiên.
-
Sự lặp lại thất bại này có thể làm lung lay cả niềm tin vào tính chân thực của đời sống hôn nhân Công giáo, theo nhận định của Cavanagh.
Tóm lại, John R. Cavanagh phê phán Rhythm không chỉ vì tỉ lệ thất bại sinh học cao, mà nhất là vì tác động tâm lý tiêu cực: lo âu, căng thẳng, giảm sự thân mật, mặc cảm tội lỗi và khủng hoảng niềm tin trong đời sống hôn nhân.[34]
Linh mục Trần Mạnh Hùng, STD.
[1] . Bài viết này trước tiên được phổ biến trên website của HĐGMVN vào ngày 15 tháng 9 năm 2025 – Phần 1 và sau đó vào ngày 23 tháng 9 năm 2023 thì phần 2 của bài viết đã được phổ biến.
Tránh Thai và Quyền Làm Cha Mẹ có Trách Nhiệm – Phần 1. Đăng ngày 15/09/2025
https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tranh-thai-va-quyen-lam-cha-me-co-trach-nhiem---phan-1 (Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2025).
Tránh Thai và Quyền Làm Cha Mẹ có Trách Nhiệm – Phần 2. Đăng ngày 23/09/2025
https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tranh-thai-va-quyen-lam-cha-me-co-trach-nhiem---phan-2 (Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2025).
[2] . Xem Lm Trần Mạnh Hùng, Tránh Thai và Quyền Làm Cha Mẹ có Trách Nhiệm (đã được cập nhật sau khi đăng tại Website của HĐGMVN). Đăng ngày 29/09/2025 tại trang web của Thư viện HVCGVN - https://www.hvcgthuvien.edu.vn/2025/09/tranh-thai-va-quyen-lam-cha-me-co-trach-nhiem.html (Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2025).
[3] . Xem Lm Trần Mạnh Hùng, Tránh Thai và Quyền Làm Cha Mẹ có Trách Nhiệm (Bản cập nhật) đăng tại Website của HĐGMVN vào ngày 23/10/2025. https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tranh-thai-va-quyen-lam-cha-me-co-trach-nhiem-ban-cap-nhat
(Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2025).
[4] . Xem Video Lm Matthew Nguyễn Khắc Hy giải đáp thắc mắc: đặt vòng uống thuốc tránh thai có được rước lễ không? https://youtu.be/yHZaLVkOXRY?si=P-oYrAv0vBd2HuB3
(Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2025).
[5] . Chú thích từ chuyên môn giữa “Tránh thai” và “Ngừa thai.” So sánh ý nghĩa
-
Về bản chất: hai từ gần như đồng nghĩa, đều chỉ hành động hoặc biện pháp để tránh việc thụ thai.
-
Về sắc thái:
-
“Tránh thai” → thông dụng, dễ hiểu, thường dùng trong ngôn ngữ thường ngày, truyền thông đại chúng.
-
“Ngừa thai” → mang tính học thuật, y khoa, chính thống hơn.
-
Nên dùng từ nào chuẩn xác hơn?
-
Trong văn bản học thuật, y khoa, thần học luân lý, giáo hội → nên dùng “ngừa thai”, vì tính chính xác, trang trọng, thống nhất với thuật ngữ y tế.
-
Trong giao tiếp đời thường, giáo dục cộng đồng → “tránh thai” dễ hiểu, gần gũi hơn.
[6] . Thông điệp Casti Connubii do Đức Giáo Hoàng Piô XI ban hành ngày 31 tháng 12 năm 1930.
https://www.vatican.va/content/pius-xi/en/encyclicals/documents/hf_p-xi_enc_19301231_casti-connubii.html (Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2025).
[7] . Hội nghị Lambeth của các Giám mục Anh giáo đã thận trọng chấp thuận một số các phương pháp tránh thai trong đời sống hôn nhân Kitô giáo, và cho phép các cặp vợ chồng được phép quyết định về cách thức ngửa thai nào mà họ muốn áp dụng, nhưng các Giám mục Anh giáo đồng thời cũng yêu cầu các cặp vợ chồng nên biết kiềm chế và ý thức về mặt đạo đức các phương pháp ngừa thai mà họ sử dụng. Xem bài viết của Linh mục Trần Mạnh Hùng, Tránh thai và quyền làm cha mẹ có trách nhiệm – phần 1. Đăng ngày 15/09/2025
https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tranh-thai-va-quyen-lam-cha-me-co-trach-nhiem---phan-1 (Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2025).
[8] . Thông điệp “Humanae Vitae – Sự sống con người” (Do Đức Giáo Hoàng Phaolô VI, ban hành ngày 25 tháng 7 năm 1968) là một văn kiện rất quan trọng trong giáo huấn Công giáo về hôn nhân, tình yêu và sinh sản. https://www.vatican.va/content/paul-vi/en/encyclicals/documents/hf_p-vi_enc_25071968_humanae-vitae.html (Truy cập ngày 29/09/2025). Đặc biệt xin quý độc giả xem phần phụ lục trong bài viết để biết thêm thông tin về Thông điệp này. Lm Trần Mạnh Hùng.
[9] . Để nắm rõ thông tin và biết thêm chi tiết, xin mời quý vị theo dõi bài viết của tôi đã đăng tại trang Web của HĐGMVN.
Linh mục Trần Mạnh Hùng, Tránh thai và quyền làm cha mẹ có trách nhiệm (bản cập nhật). Đăng ngày 23/10/2025.
https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tranh-thai-va-quyen-lam-cha-me-co-trach-nhiem-ban-cap-nhat
(Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2025).
[10] . Trong các ấn phẩm khác, tôi đã mô tả những tác động tâm lý tiêu cực của phương pháp tiết dục theo chu kỳ (Rhythm) vốn phát sinh từ những thất bại của nó. Ông ta đã diễn tả các ảnh hưởng tiêu cực về mặt tâm sinh lý đối với các cặp vợ chồng khi áp dụng phương pháp này. Xem Cavanagh, John R. (1969) “Psychiatric Indications for the Use of Contraceptives,” The Linacre Quarterly: Vol. 36 : No. 2 , Article 4. Available at: http://epublications.marquette.edu/lnq/vol36/iss2/4 (Accessed on Monday, 29 September 2025).
[11] . Xem Richard A. McCormick, Theological Studies, 29, 4 (1968), 728. Cũng như Adrian Hastings in a letter to The Tablet (2 March 1985), 238-239.
[12] . Giải thích rõ hơn là việc quan hệ vợ chồng chỉ nên diễn ra vào thời kỳ mà trứng của người vợ chưa có rụng, được coi như thể là thời gian vô sinh tạm thời, cho nên khi giao hợp vào khoảng thời gian trứng chưa rụng thì sẽ không có xảy ra sự thụ thai.
[13] . Để biết thêm chi tiết về các phương pháp ngừa thai tự nhiên được Giáo hội Công giáo chấp nhận, xin quý độc giả tham khào phần phụ lục trong bài viết này.
[14] . James T. Burtchaell, “Human Life and Human Love,” trong Paul T. Jersild and Dale A. Johnson (eds.), Moral Issues and Christian Response, (New York, 1971), tr. 139-147.
[15] . Vai trò của Tiến sĩ John Cavanagh trong Ủy ban Giáo hoàng. Các bản tóm lược và ghi chú cho biết Tiến sĩ John R. Cavanagh (một bác sĩ tâm thần tại Washington, D.C.) là thành viên của ủy ban mở rộng nghiên cứu về các vấn đề dân số, gia đình và kiểm soát sinh sản; những ghi chú lưu trữ và các bản bình luận đề cập đến sự tham gia của ông trong bản báo cáo của ủy ban về kiểm soát sinh sản dưới thời Đức Giáo hoàng Phaolô VI.
[16] . John R. Cavanagh, “Is Rhythm Better Than We Think?”, Marriage, 47 (November, 1965), tr. 1-4.
[17] . Xem John R. Cavanagh ‘Rhythm May be Better Than You Think,’ Marriage Magazine, August, 1965.
[18] . Trong các ấn phẩm khác, tôi đã mô tả những tác động tâm lý tiêu cực của phương pháp tiết dục theo chu kỳ (Rhythm) vốn phát sinh từ những thất bại của nó. Ông ta đã diễn tả các ảnh hưởng tiêu cực về mặt tâm sinh lý đối với các cặp vợ chồng khi áp dụng phương pháp này. Xem John R. Cavanagh, ‘A Special Marriage Report on Rhythm,’ Marriage Magazine, tháng 8 năm 1966. Đồng thời nên xem một tài liệu quan trọng khác của John Canavagh tại đây: Cavanagh, John R. (1969) “Psychiatric Indications for the Use of Contraceptives,” The Linacre Quarterly: Vol. 36 : No. 2 , Article 4. Available at: http://epublications.marquette.edu/lnq/vol36/iss2/4 (Accessed on Monday, 29 September 2025).
1. Lo lắng và căng thẳng thường trực
-
Người vợ và chồng phải tính toán ngày an toàn một cách nghiêm ngặt.
-
Nỗi sợ “tính sai” dẫn đến việc mang thai ngoài ý muốn gây ra sự căng thẳng kéo dài.
-
Vợ chồng dễ rơi vào trạng thái thiếu thoải mái trong quan hệ, vì luôn canh cánh lo lắng về hậu quả.
2. Ảnh hưởng đến sự thân mật vợ chồng
-
Việc buộc phải kiêng cữ trong những ngày dễ thụ thai có thể làm gián đoạn sự tự phát tự nhiên của tình yêu vợ chồng.
-
Cavanagh nhận xét rằng điều này có thể tạo ra khoảng cách, thậm chí cảm giác bị từ chối trong đời sống tình dục.
3. Mặc cảm và tội lỗi khi thất bại
-
Nếu mang thai xảy ra ngoài dự tính, các cặp đôi có thể đổ lỗi cho nhau hoặc cảm thấy bản thân yếu kém.
-
Nhiều người rơi vào tình trạng tội lỗi về đạo đức hoặc mặc cảm thất bại, vì cho rằng mình không đủ kỷ luật để giữ luật Hội Thánh.
4. Ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần
-
Việc phải thường xuyên lo nghĩ, ghi chép, theo dõi ngày tháng… gây nên stress tâm lý.
-
Một số trường hợp có thể dẫn đến trầm cảm nhẹ hoặc căng thẳng hôn nhân khi thất bại lặp lại nhiều lần.
5. Mất niềm tin vào phương pháp và vào nhau
-
Khi Rhythm thất bại, nhiều cặp vợ chồng mất lòng tin vào phương pháp tự nhiên.
-
Sự lặp lại thất bại này có thể làm lung lay cả niềm tin vào tính chân thực của đời sống hôn nhân Công giáo, theo nhận định của Cavanagh.
Tóm lại, John R. Cavanagh phê phán Rhythm không chỉ vì tỉ lệ thất bại sinh học cao, mà nhất là vì tác động tâm lý tiêu cực: lo âu, căng thẳng, giảm sự thân mật, mặc cảm tội lỗi và khủng hoảng niềm tin trong đời sống hôn nhân. Xem John R. Cavanagh, ‘A Special Marriage Report on Rhythm,’ Marriage Magazine, tháng 8 năm 1966. Đồng thời nên xem một tài liệu quan trọng khác của John Canavagh tại đây: Cavanagh, John R. (1969) “Psychiatric Indications for the Use of Contraceptives,” The Linacre Quarterly: Vol. 36 : No. 2 , Article 4. Available at: http://epublications.marquette.edu/lnq/vol36/iss2/4 (Accessed on Monday, 29 September 2025).
[19] . James T. Burtchaell, Sđd, tr.139-140.
[20] . Sđd., tr. 139-147.
[21] . Xem Lm Trần Mạnh Hùng, Tránh Thai và Quyền Làm Cha Mẹ có Trách Nhiệm (đã được cập nhật sau khi đăng tại Website của HĐGMVN). Đăng ngày 29/09/2025 tại trang web của Thư viện HVCGVN - https://www.hvcgthuvien.edu.vn/2025/09/tranh-thai-va-quyen-lam-cha-me-co-trach-nhiem.html (Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2025).
[22]. Tuyển tập các hướng dẫn của các Hội đồng Giám mục khác nhau, Xem William H. Shannon, The Lively Debate: Response to Humanae Vitae (New York: Sheed and Ward, 1970).
[23] . Bao gồm Đức Giáo Hoàng, các Giám mục, các Thánh bộ đại diện cho Đức Giáo Hoàng.
[24]. Tín điều Đức mẹ vô nhiễm nguyên tội được trịnh trọng công bố như một tín điều bởi Đức Thánh cha Piô XI trong tông thư Ineffabilis Deus ngày 8 tháng 12 năm 1854
[25]. Giáo hội Công giáo dạy như một tín điều rằng “Đức mẹ đồng trinh, sau khi hoàn tất cuộc đời trần thế, đã được đưa lên trời cả hồn lẫn xác”. Tín điều này đã được định tín như tín điều bất khả ngộ bởi Đức Thánh cha Piô XII vào ngày 1 tháng 11 năm 1950 trong tông hiến Munificentissimus Deus. Tông hiến tuyên bố từ tông tòa Phêrô “ex cathedra” tín điều Đức Mẹ đồng trinh lên Trời.
[26] . Đây là đặc ân không thể sai lầm trong việc giảng dạy những gì thuộc đức tin và luân lý. Đặc ân này gắn liền với Quyền giáo huấn của cả Giáo Hội: toàn thể Giáo Hội chủ huấn được hưởng đặc ân bất khả ngộ này – Hàng Giám mục kết hiệp với Đức Giáo Hoàng Roma.
-
Mỗi Giám mục riêng lẻ không được hưởng đặc ân này. Hàng Giám mục như một toàn thể thì được: các Công Đồng – nhưng phải thông hiệp với vị thủ lãnh tối cao của Giáo Hội là Đức Giáo hoàng.
-
Còn Đức Giáo hoàng (Giám mục Rôma) được hưởng đặc ân này như đặc ân cá nhân, gắn liền với chức vụ tối cao của ngài, khi ngài công bố long trọng và chính thức một quyết định liên quan đến đức tin và luân lý (phong hoá). Xem Linh mục Antôn Nguyễn văn Dũng, C.Ss.R., Đôi Nét Về Huấn Quyền. https://dcctvn.org/doi-net-ve-huan-quyen/ (Truy cập, ngày 8.7.2020).
[27] . Richard A. McCormick, S.J., “Authority and Morality - Thẩm quyền và luân lý,” America, 142 (1980), 169-171 at 169.
[28]. John L. McKenzie. Authority in the Church - Thẩm quyền trong Giáo hội (New York: Sheed & Ward, 1966), tr. 135.
[29]. Richard M. Gula, S.S., To Walk Together Again, The Sacrament of Reconciliation - Cùng đồng hành với nhau lần nữa, bí tích hòa giải (New York: Paulist Press, 1984), tr. 177.
[30] . Ở đây, chúng ta có thể nêu lên một vài trường hợp, ví dụ như việc áp dụng các phương pháp ngừa thai hay tránh thai nhân tạo, nhằm để hạn chế việc sinh sản, hầu đảm bảo cho sức khỏe của người mẹ và cho cả việc nuôi nấng và giáo dục con cái cho đầy đủ về mặt vật chất và trọn vẹn về mặt nhân bản.
[31] . Richard M. Gula, Reason Informed by Faith (Mahwah: Paulist Press, 1989), tr.160.
[32] . Xem Dr. Evelyn Billings and Ann Westmore, The Billings Method: Controlling Fertility Without Drugs or Devices (Hawthorn, Victoria Australia: Anne O’Donovan Pty, Ltd, 1980).
[33] . Tiến sĩ John R. Cavanagh (một bác sĩ tâm thần tại Washington, D.C.) là thành viên của ủy ban mở rộng nghiên cứu về các vấn đề dân số, gia đình và kiểm soát sinh sản. ông đã kiến nghị xin Tòa Thánh xem xét lại việc cho phép các đôi vợ chồng được chọn lựa các phương pháp ngừa thai khác, ngoài phương pháp tiết dục định kỳ, trong bản báo cáo của ủy ban về kiểm soát sinh sản dưới thời Đức Giáo hoàng Phaolô VI.
[34] . Xem John R. Cavanagh (1969), “Psychiatric Indications for the Use of Contraceptives,” The Linacre Quarterly: Vol. 36 : No. 2 , Article 4. Available at: http://epublications.marquette.edu/lnq/vol36/iss2/4 (Accessed on Monday, 29 September 2025)