DẪN NHẬP
Sứ điệp của Đức Giáo hoàng Phanxicô nhân Ngày thế giới Di dân và Tị nạn năm 2024 dạy rằng:
Nhiều người di cư cảm nghiệm Thiên Chúa như người bạn đồng hành, người hướng dẫn, và là chiếc neo cứu độ của mình. Họ phó thác bản thân mình cho Thiên Chúa trước khi lên đường và hướng về Ngài trong những lúc cần thiết. Nơi Thiên Chúa, họ tìm thấy niềm an ủi trong những lúc tuyệt vọng. Nhờ Ngài mà trên đường đi có những người Samari tốt lành. Với Ngài, họ giãi bày niềm hy vọng của mình trong cầu nguyện. Biết bao cuốn Kinh Thánh, sách Phúc Âm, sách cầu nguyện và tràng hạt Mân côi đồng hành với những người di cư trên hành trình băng qua các sa mạc, sông ngòi, biển cả và biên giới của mọi châu lục.[1]
Nếu nhìn lại những bức ảnh ghi lại cảnh đoàn giáo dân di cư năm 1954, ta dễ dàng nhận ra giáo huấn của Đức Giáo hoàng dường như đang được minh họa cách sống động. Hình ảnh những cụ già ôm theo tượng Chuộc tội, tượng Chúa, Đức Mẹ hay các thánh, cổ đeo tràng hạt Mân Côi… cho thấy một niềm tin vững chắc: chỉ cần có Thiên Chúa đồng hành, bản thân và gia đình sẽ tìm được bình an và hạnh phúc. Dưới lăng kính truyền giáo học, những hình ảnh ấy phản ánh một tiến trình loan báo Tin mừng sống động nơi mọi thành phần dân Chúa. Bởi lẽ, dấu chân của người di cư đặt đến đâu, ở đó hạt giống đức tin cũng được gieo và nảy mầm. Vì thế, sứ mạng truyền giáo không chỉ dành riêng cho linh mục hay tu sĩ, mà còn có sự tham gia tích cực, hiệu quả của giáo dân, đặc biệt là anh chị em di dân Công giáo. Bài viết này sẽ tập trung vào việc tìm hiểu sứ vụ truyền giáo của cộng đồng di dân Công giáo Việt Nam đang sinh sống và làm việc tại Thái Lan.
I. BỐI CẢNH CHUNG CỦA DI DÂN VIỆT NAM TẠI THÁI LAN
1. Những “lực đẩy” và “lực hút” dẫn đến sự di dân
Di dân là ai? Hạn từ “di dân” khi dùng như danh từ có thể chỉ về “người di dân” hoặc “sự di dân”. Vì vậy, nên có thêm từ loại như người di dân, việc/sự di dân của con người để làm rõ nghĩa.[2] Trong bài viết này, hai cụm từ “người di dân” và “người di cư” được sử dụng với cùng một ý nghĩa.
Theo Từ điển Oxford, thuật ngữ “migrant” được định nghĩa là: “a person who moves from one place to another, especially in order to find work” – người rời bỏ nơi cư trú để đến nơi khác, đặc biệt nhằm tìm việc làm. Trong khi đó, Tổ chức Di dân Thế giới (IOM) định nghĩa: “Di dân là người di chuyển khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình, dù trong phạm vi một quốc gia hay vượt biên giới, có thể tạm thời hoặc vĩnh viễn, và vì nhiều lý do khác nhau”.[3]
Trong khuôn khổ bài viết này, khái niệm di dân Công giáo được hiểu là những người di dân mang niềm tin và thực hành đức tin Công giáo. Câu hỏi đặt ra: Vì sao nhiều anh chị em Công giáo Việt Nam lại chọn Thái Lan làm điểm đến, dù chỉ tạm thời hay lâu dài để rồi có người trở thành công dân của đất nước này? Có những lý do chính yếu sau:
2. Tiền lương cao hơn so với Việt Nam - Lực hút
Về kinh tế, Thái Lan được xem là một trong những quốc gia có nền kinh tế ổn định và khá mạnh trong khu vực Đông Nam Á. Điều này thể hiện rõ qua các chỉ số GDP và GDP bình quân đầu người. Năm 2023, GDP của Thái Lan đạt 512,19 tỉ USD, xếp thứ 2 trong khối ASEAN; Việt Nam đạt 433,64 tỉ USD, xếp thứ 5. Về GDP bình quân đầu người, Thái Lan đạt 7.298 USD, xếp thứ 4, trong khi Việt Nam đạt 4.316 USD, xếp thứ 6. Như vậy, thu nhập bình quân đầu người của Thái Lan cao gấp 1,7 lần Việt Nam.[4] Đây mới chỉ là số liệu trung bình, chưa tính đến sự khác biệt về hạ tầng, giao thông và cơ hội việc làm. Nói chung, so với Việt Nam, người lao động Việt tại Thái Lan vẫn dễ tìm việc và có thu nhập khá hơn. Đây chính là một trong những “lực hút” mạnh mẽ khiến nhiều người Việt chọn Thái Lan làm điểm đến để làm việc và sinh sống.
Xét về địa lý, phần lớn người di cư sang Thái Lan đến từ các tỉnh Bắc Trung Bộ như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, cùng một số tỉnh miền Bắc. Tại các vùng nông thôn này, đa số bà con trước khi xuất ngoại làm nghề nông với thu nhập bấp bênh. Theo báo Lao Động, từ ngày 1/7/2024, mức lương tối thiểu tại Nghệ An và Hà Tĩnh dao động từ 3.450.000 đến 4.410.000 đồng/tháng.[5] Với mức lương này, việc trang trải chi phí gia đình, học hành cho con cái hay dành dụm phòng khi đau ốm gần như là bất khả thi, dù ở nông thôn hay thành thị.
3. Việc làm tại quê nhà khó kiếm - Lực đẩy
Hà Tĩnh và Nghệ An là hai tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ của Việt Nam. Đây là vùng đất có đầy đủ địa hình núi cao, đồi thấp trung du, đồng bằng nhỏ hẹp và ven biển. Có khí hậu nhiệt đới gió mùa với 4 mùa rõ rệt, đặc biệt có mùa hè nắng nóng vì hiệu ứng gió phơn (gió tây nam từ nước Lào thổi qua), có mùa đông lạnh giá. Lượng mưa khá nhiều và cũng là khu vực hay gánh chịu bão tố và lũ lụt. Vì thế, phần lớn người dân nơi đây có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, công việc làm nông vất vả, thu nhập từ nghề nông cũng không cao như đề cập ở trên. Các ngành nghề công nghiệp và dịch vụ khác chưa phát triển bằng những nơi khác cho nên công ăn việc làm với mức thu nhập dư dả không có nhiều, vì thế để có đời sống gia đình sung túc, có nhà cửa đàng hoàng không phải là điều dễ làm với nhiều người dân, đặc biệt với những người trẻ. Đây có thể nói là lực đẩy để nhiều người trẻ di cư đến các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn hoặc tại các tỉnh có nhiều khu công nghiệp như Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Bình Dương, Long An, … để tìm kiếm cơ hội cải thiện cuộc sống.
4. Khoảng cách địa lý, phương tiện đi lại và cuộc sống tương đối gần gũi với Việt Nam
Xét về địa lý, Việt Nam cách Thái Lan không xa và việc đi lại hiện nay khá thuận tiện. Từ cửa khẩu Cầu Treo (Hà Tĩnh) đến cửa khẩu Nakhon Phanom (Thái Lan) khoảng 236,5 km, đi ô tô mất chừng 4 giờ 30 phút; bay từ Sài Gòn đến Bangkok chỉ mất 1 giờ 45 phút. Hiện có nhiều hãng xe khách chất lượng cao, giá vé khoảng 2 triệu đồng hoặc 2.500 baht, phục vụ thường xuyên cả hành khách lẫn hàng hóa. Nhờ vậy, việc di chuyển giữa hai nước trở nên dễ dàng cho người di dân cũng như khách du lịch.
Người Việt và người Thái có nhiều nét tương đồng về vóc dáng, ẩm thực và khẩu vị. Trở ngại lớn nhất của người di dân mới đến là ngôn ngữ. Tiếng Thái không dùng hệ chữ Latinh như tiếng Việt mà dựa trên kí tự có gốc Sanskrit và Pali. Tuy nhiên, chỉ sau vài tháng, nhiều người Việt đã giao tiếp hằng ngày khá tốt, dù việc đọc và viết tiếng Thái vẫn là một thử thách.
Về tôn giáo, đa số di dân Công giáo đến từ các giáo phận Hà Tĩnh và Vinh, vốn có truyền thống sống đạo sốt sắng, nhiệt tình tham gia các sinh hoạt đoàn thể của giáo xứ và giáo phận. Tuy nhiên, do Giáo hội Công giáo Thái Lan có số tín hữu ít, sinh hoạt hội đoàn chưa sôi động như ở Việt Nam, nên nhiều anh chị em khó tiếp tục tham gia hội đoàn như trước nữa. Thêm vào đó, phần đông di dân là người trẻ, mang theo gia đình và con nhỏ. Các em ít có cơ hội tham gia Thiếu Nhi Thánh Thể như ở quê nhà, nên thiếu một môi trường đức tin sinh động để có thể lớn lên.
II. DI DÂN VIỆT ĐÓNG GÓP GÌ CHO GIÁO HỘI CÔNG GIÁO THÁI LAN
1. Tổng quan Giáo hội Công giáo tại Thái Lan
Ngày 4 tháng 7 năm 1669, Đức Giáo hoàng Clement IX chính thức thành lập Miền truyền giáo Xiêm La (tức Thái Lan ngày nay), đánh dấu sự khai sinh của Giáo hội Công giáo tại đây. [6] Trước và sau đó, nhiều cột mốc quan trọng đã diễn ra[7]:
- 1658: Đức Giáo hoàng Alexander VII bổ nhiệm Đức cha François Pallu làm Đại diện Tông toà tại Trung Quốc và Lào; Đức cha Pierre Lambert de La Motte làm Đại diện Tông toà tại Nam Kỳ.
- 1662: Đức cha Lambert de La Motte đến Xiêm La (Ayutthaya, dưới triều vua Narai), trở thành vị giám mục đầu tiên đặt chân đến nơi này.
- 1663: Hội Thừa sai Paris (M.E.P.) được thành lập, với các giám mục Pallu, Lambert de La Motte và Cotolendi là nhóm các Đại diện Tông toà tiên khởi.
- 1664: Đức cha Pallu tổ chức Thượng Hội đồng đầu tiên tại Ayutthaya.
- 1669: Miền truyền giáo Xiêm La được công bố thành lập.
- 1673: Đức cha Louis Laneau được bổ nhiệm làm Đại diện Tông tòa Xiêm La và Nam Kinh.
- 1674: Ngài được tấn phong giám mục đầu tiên của Xiêm La tại Ayutthaya.
Hiện nay, Giáo hội Công giáo Thái Lan có khoảng 388.468 tín hữu, chiếm 0,58% dân số (trên tổng số hơn 70 triệu dân). Giáo hội có 662 linh mục phụ trách 526 giáo xứ, theo thống kê của Ủy ban Truyền thông Xã hội, HĐGM Thái Lan.[8]
2. Những đóng góp của di dân Công giáo Việt Nam cho Giáo hội Thái Lan
Không dễ dàng để cân đo đong đếm những đóng góp của di dân Công giáo cho Giáo hội Thái Lan. Thật vậy, sự đóng góp này không phải chỉ ngày một ngày hai, hay chỉ một lãnh vực này hay lãnh vực kia. Mục này của bài viết cố gắng trình bày một cách cụ thể những lãnh vực mà di dân Công giáo Việt đã đóng góp cho Giáo hội Thái Lan.
2.1. Đóng góp vào sự hình thành của Giáo hội Thái Lan ngay từ đầu
Không thể phủ nhận người Kitô hữu Việt Nam là con cháu của các thánh tử đạo. Nhờ những giọt máu tử đạo này hạt giống đức tin kiên trung luôn đi theo con cháu cho dù di cư trong nước hay định cư tại nước ngoài. Trong những thời kì bách hại đạo tại Việt Nam, nhiều Kitô hữu đã chạy trốn đến Thái Lan, và có lẽ do ý Chúa muốn, các di dân Công giáo này mang hạt giống đức tin Công giáo đến gieo trồng trên mảnh đất Chùa Vàng. Minh chứng cụ thể nhất là hiện nay tại Tổng Giáo phận Bangkok có hai giáo xứ có thể gọi là “giáo xứ gốc Việt”, nghĩa là các giáo dân ban đầu của các giáo xứ này là người Việt di dân Công giáo. Đó là giáo xứ Thánh Phanxicô Xaviê và giáo xứ Thánh Giuse ở Ayutthaya. Ngoài ra, còn Giáo xứ chánh toà Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội ở giáo phận Chanthaburi là một giáo xứ mà hạt giống đức tin đầu tiên cũng là những người Việt Nam. Về tín hữu gốc Việt ở giáo xứ Thánh Giuse, Ayuthaya và giáo xứ Chánh toà vừa nói, Linh mục Anthony Lê Đức, SVD cho biết:
Năm 1707 thời nhà vua Sanphet (1703-1709), 130 người Công giáo Việt Nam từ Ayutthaya đã di chuyển đến tỉnh Chanthaburi và bắt đầu xây dựng một cộng đoàn ở đó. Năm 1712 họ đã xây nhà thờ Công giáo đầu tiên bên cạnh con sông chính trong vùng dưới sự chăm sóc của một vị linh mục người Philippines là cha Nicolas Tolentino. Ngày nay đa số người Công giáo trong giáo phận Chanthaburi đều là người mang dòng máu Việt. Như thế người Việt Nam, đặc biệt là người Công giáo Việt đã có mặt tại Thái Lan trên 350 năm. Những người Việt di cư đến Thái Lan trong làn sóng đầu tiên chủ yếu vì lý do tôn giáo được gọi là “yuan kau” (người Việt cũ).[9]
Còn nói về sự hình thành của nhà thờ Thánh Phanxicô Xaviê, tác giả Eric Lim viết như sau:
Nhà thờ Thánh Phanxicô Xaviê là một nhà thờ Công giáo cổ ở Soi Mitrakam Bangkok, dành riêng cho tu sĩ Dòng Tên. Thánh Phanxicô Xaviê đã dành cả cuộc đời để truyền bá Phúc âm ở Châu Á, mặc dù ngài chưa bao giờ đặt chân đến Thái Lan. Soi Mitrakam, Samsen là một khu vực nổi tiếng với những người Việt Nam nhập cư chạy trốn khỏi cuộc đàn áp tôn giáo ở Việt Nam. Hai cuộc chiến tranh với Việt Nam dưới thời Vua Rama III đã thu hút thêm nhiều người Việt Nam đến khu vực này.[10]
Với hai đoạn trích dẫn trên chúng ta đã có những minh chứng rất rõ ràng và cụ thể về sự đóng góp của người di dân Công giáo Việt Nam tại Thái Lan trong sự hình thành từ những giai đoạn đầu của Giáo hội tại đây.
2.2. Đóng góp làm sống động các sinh hoạt cả đời lẫn đạo ở Thái Lan
Đối với xã hội, sự đóng góp của người Thái gốc Việt trong đó có nhiều người giáo dân Công giáo thúc đẩy tương quan thân thiện giữa hai đất nước Việt Nam và Thái Lan. Về vấn đề này, Linh mục Anthony Lê Đức, SVD, vị linh mục hơn chục năm sống và mục vụ cho người Việt bất kể tôn giáo, nhận xét:
Đối với người Việt Nam đến Thái Lan những thế hệ trước đây, mặc dầu họ đã trải qua không ít khó khăn trong quá khứ, nhưng hiện nay họ đã hoàn toàn hội nhập vào xã hội Thái Lan. Nhiều người Thái gốc Việt có địa vị cao trong xã hội sở tại. Họ có tên bằng tiếng Thái cả tên gọi lẫn tên họ. Cộng đồng người Thái gốc Việt không chỉ tham gia đầy đủ vào xã hội Thái mà họ cũng có thể thành lập những tổ chức như Hội người Thái gốc Việt, Hội doanh nhân Thái gốc Việt… để duy trì bản sắc văn hóa và nguồn cội. Tuy nhiên, đối với đa số người Thái gốc Việt thì những tổ chức này không thực sự thiết yếu cho đời sống của họ, đặc biệt là cho những thế hệ sau này, vì họ dường như đã hội nhập hoàn toàn vào xã hội và văn hóa của đất nước nơi họ sinh ra và lớn lên.[11]
2.3. Tham gia những sinh hoạt của giáo hội địa phương
Hiện nay, dưới sự hướng dẫn của Ủy ban Mục vụ Di dân và Ban Điều hành Di dân, các nhóm Công giáo Việt Nam tại Thái Lan hoạt động khá ổn định. Nhờ sự hiện diện và cộng tác của các linh mục, tu sĩ Việt Nam, mối tương quan với Giáo hội địa phương ngày càng gần gũi. Điều này giúp các vị lãnh đạo và linh mục Thái Lan hiểu biết hơn về di dân Việt Nam, đồng thời sẵn sàng tạo điều kiện cho cộng đoàn được cử hành Thánh lễ trong giáo xứ. Nhờ vậy, nhiều Thánh lễ chung của Liên hiệp được tổ chức và duy trì, góp phần mang lại cái nhìn thiện cảm từ phía giáo dân Thái Lan đối với anh chị em di dân.
Ngoài mục vụ bí tích và việc dạy giáo lý, Liên hiệp còn tổ chức các chương trình tọa đàm, tĩnh tâm, hội trại và hội thao, giúp nâng cao đời sống tâm linh và tinh thần cho cộng đoàn. Đặc biệt, trong một số giáo xứ Thái Lan, nhiều anh chị em di dân còn tham gia Hội đồng Mục vụ hay Ban Hành giáo, cho thấy sự hội nhập ngày càng rõ nét vào đời sống của Giáo hội địa phương.[12]
III. NHỮNG TRỞ NGẠI KHIẾN DI DÂN VIỆT NAM CHƯA THỂ SỐNG SỨ MỆNH TRUYỀN GIÁO TẠI GIÁO HỘI ĐỊA PHƯƠNG
1. Những khó khăn về đời sống thường ngày
Theo bà Nguyễn Thị Xuân Mai,[13] người di dân phải đối mặt với nhiều khó khăn hầu hết là những vấn đề thường ngày trong đời sống như cơm, áo, gạo, tiền. Trong những khó khăn đó, khó khăn về chỗ ở được đề cập đến nhiều nhất. Có tới 42,6% người di cư gặp khó khăn về chỗ ở, hơn 50% số người di cư phải ở phòng trọ; nhà cửa chật hẹp, khoảng 40% so người di cư đang ở diện tích khoảng 10m2/người, thậm chí gần 20% người di cư phải ở trong diện tích bình quân rất nhỏ, dưới 6m2/người. Tình trạng này thể hiện rõ nhất tại các khu trọ công nhân ở khu công nghiệp và khu trọ sinh viên.[14]
Bên cạnh những khó khăn về vật chất, người di cư còn phải đối diện với những thách đố trong đời sống gia đình, đặc biệt là trong mối tương quan giữa vợ chồng và giữa cha mẹ với con cái. Theo PGS.TS Lưu Bích Ngọc (Viện Dân số và Các vấn đề xã hội – Đại học Kinh tế Quốc dân), nhiều trẻ em thiệt thòi khi không được sống gần cha mẹ, thiếu sự chăm sóc trực tiếp và chủ yếu phải ở với ông bà. Đây là vấn đề đáng lo ngại vì có thể dẫn đến những hệ lụy như trẻ em dễ bị lôi kéo vào các tệ nạn xã hội.[15]
Khi gặp những khó khăn như vậy, câu hỏi đặt ra là: người di cư tìm sự hỗ trợ ở đâu? Thực tế cho thấy rất ít người tìm đến các cơ quan hay đoàn thể, mà phần lớn dựa vào người thân trong gia đình (khoảng 60%). Trong số này, có khoảng 70% nhận được sự nâng đỡ tinh thần, 50,8% được giúp đỡ về chỗ ở và 35% được hỗ trợ về tài chính.[16]
Ở phương diện pháp lý, có một thực trạng đáng chú ý là khoảng 44,3% người di cư chưa đăng ký thường trú hoặc tạm trú với chính quyền, vì cho rằng điều đó không cần thiết. Tuy nhiên, các cuộc phỏng vấn sâu lại cho thấy việc không đăng ký hộ khẩu thường trú khiến họ gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận hệ thống giáo dục công, dịch vụ y tế và cả các nguồn tín dụng chính thức...[17]
Trên đây là những khó khăn khách quan của người di cư, vậy đâu là những khó khăn chủ quan? Phần lớn lao động di cư tại Việt Nam làm các công việc chân tay hoặc những việc ít đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật. Có tới 78,8% lao động di cư từ 15 tuổi trở lên không có trình độ chuyên môn; trong khi đó, trình độ sơ cấp chỉ chiếm 4,3%, trung cấp 3,9%, cao đẳng 3,3% và đại học 9,2%. Bên cạnh đó, tỷ lệ thất nghiệp của lao động di cư cũng cao hơn so với nhóm không di cư (2,53% so với 2,01%). Trong đó, lao động nữ di cư có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn nam, lần lượt là 2,82% và 2,20%. Đáng chú ý, trong tổng số lao động di cư thất nghiệp, hơn hai phần ba (69,7%) là những người đến thành thị, chỉ khoảng một phần ba di cư về nông thôn. Thực trạng này tác động không nhỏ đến chất lượng sống của người lao động di cư, nhất là trong vấn đề an sinh xã hội vốn còn nhiều lỗ hổng.[18]
2. Những thách đố về đời sống đức tin của người di cư
Khi rời khỏi quê nhà đi đến một nơi ở mới, đặc biệt ở nước ngoài để tìm kiếm công ăn việc làm, về mặt đời sống đức tin, người di cư sẽ đối mặt với nhiều khó khăn và thách đố. Khi bước vào một cuộc sống mới, bên cạnh những cơ hội phát triển, những thách đố cho chính bản thân những người tham gia sân chơi cũng không thiếu. Như Đức Giáo hoàng Gioan XXIII đã nói, song song với việc mở toang cánh cửa sổ để đón nhận những “luồng gió mới”, những “bụi bặm” và những “cơn gió độc” của trần thế cũng có thể thừa cơ để len lỏi vào căn nhà đức tin của mình.[19]
2.1. Thiếu đi các yếu tố giúp bảo vệ và thăng tiến đời sống đức tin
Phần lớn người tín hữu Công giáo được đón nhận hồng ân đức tin trong đời sống đức tin của gia đình. Đức tin này được nuôi dưỡng, chăm sóc và lớn lên mạnh mẽ nhờ vào truyền thống đạo đức của gia đình, giáo họ, giáo xứ với những sinh hoạt đạo đức như đọc kinh, cầu nguyện trong gia đình, tham dự Thánh lễ, học hỏi giáo lý và những sinh hoạt đoàn thể khác… Nhờ đó đời sống đức tin của người tín hữu được thăng tiến.
Thêm vào đó, các mối tương quan, bầu khí đạo đức trong tình làng nghĩa xóm, trong xứ đạo cũng góp phần tích cực động viên khích lệ, làm cho đời sống đức tin được gìn giữ, bảo vệ, phát triển tốt hơn. Những người không đi nhà thờ hay bỏ bê việc sinh hoạt trong giáo xứ vẫn còn sợ mang tiếng, sợ dư luận hàng xóm láng giềng ảnh hưởng đến danh dự của gia đình, dòng tộc hay tự cảm thấy mình bị lạc lõng giữa một xứ đạo mà phần đông người ta tích cực tham gia vào các hội đoàn và những hoạt động tông đồ. Vì thế, làng quê và giáo xứ như hàng rào bảo vệ đời sống đức tin của người tín hữu. Khi rời khỏi giáo xứ cũng như rời khỏi hàng rào bảo vệ đức tin, người di dân phải tới những vùng đất xa lạ, thậm chí chỗ ở mới cách xa nhà thờ, thậm chí không có nhà thờ, không được ai quan tâm giúp đỡ, ngay cả lúc tìm đến nhà thờ cũng chẳng có ai biết đến, thì họ rất dễ cảm thấy lạc lõng, cô đơn giữa một đám đông toàn là những người xa lạ.[20]
Bên cạnh đó, nỗi lo mưu sinh ngày càng chiếm trọn tâm trí của người di dân. Cộng thêm những áp lực từ tiền bạc, công việc, tình cảm, cùng với sự cô đơn, trống vắng và cả những thôi thúc bản năng, tất cả khiến thân phận con người vốn mong manh càng dễ bị tổn thương. Trong hoàn cảnh ấy, không ít người di dân trở nên chểnh mảng trong đời sống thiêng liêng, lơ là việc đạo đức và dần dà suy giảm đức tin.[21]
2.2. Người di cư phải đối diện với nhiều cám dỗ
Khi thiếu đi hàng rào bảo vệ đức tin, người di cư dễ bị cuốn vào muôn vàn cám dỗ luôn rình rập: tệ nạn xã hội, rượu chè, cờ bạc, lô đề, mê tín dị đoan hay các chiêu trò lừa đảo. Trong cảnh túng quẫn vì thất nghiệp, bệnh tật hay tai nạn bất ngờ, họ càng dễ trở thành miếng mồi của những kẻ lợi dụng. Không ít người vì miếng cơm manh áo hoặc vì tham lợi đã rơi vào bẫy kinh doanh đa cấp, vay nặng lãi, buôn lậu, thậm chí cả mại dâm, để rồi vướng vào vòng lao lý.
Nguy hại hơn, một số người di dân vì tò mò hay hiếu kỳ mà tìm đến những tôn giáo khác. Sau thời gian tiếp xúc và tìm hiểu, họ dần nghi ngờ niềm tin của mình, xa rời đời sống đạo và có nguy cơ lạc vào các giáo phái sai lạc đức tin.
3. Giải pháp cho những thách đố trong đời sống đức tin của người di cư
Các linh mục và tu sĩ đồng hành với người di dân được mời gọi mang nơi mình trái tim của Thầy Giêsu, để nâng đỡ anh chị em trong hành trình đức tin trưởng thành và toàn diện. Sứ mạng này đòi hỏi nhiều hy sinh âm thầm: gieo hạt giống Lời Chúa vào mảnh đất tâm hồn, rồi kiên trì chăm sóc, vun xới từ những mầm non cho đến khi cây vươn cao. Mục tiêu là giúp người di dân đạt tới một đời sống đức tin trưởng thành, quân bình và bền vững. Trong bối cảnh xã hội Việt Nam ngày càng hội nhập quốc tế, tinh thần của Đức Kitô Phục Sinh cần được thể hiện cụ thể hơn: không phải chỉ ngồi chờ, nhưng dấn thân đi tìm con chiên lạc, băng bó vết thương và đưa về đàn (x. Mt 18,12).[22]
Câu chuyện Đức Giêsu đồng hành với hai môn đệ trên đường Emmau cho thấy Người không hiện diện đơn lẻ, nhưng với nhóm người, với cộng đoàn, với toàn thể Hội Thánh. Khi các tín hữu quy tụ, cùng nhau chia sẻ Lời Chúa và tham dự nghi lễ “bẻ bánh”, niềm hy vọng và sức sống đức tin được thắp sáng. Hình ảnh hai môn đệ “nài ép” Đức Giêsu ở lại (x. Lc 24,29) cho thấy: bất cứ khi nào người di dân biết dành thời gian hiện diện với Chúa trong Thánh Thể và lời cầu nguyện, họ sẽ tìm được nguồn sức mạnh để vượt thắng cám dỗ, đứng vững giữa thử thách và bước đi trong ánh sáng. Như Thánh Irênê từng khẳng định, cùng đích của con người chính là được chiêm ngắm Thiên Chúa.[23]
IV. GIÁO HỘI CẦN CÓ NHỮNG ĐƯỜNG HƯỚNG ĐỂ KHAI MỞ TIỀM NĂNG TRUYỀN GIÁO QUA NGƯỜI DI CƯ
1. Huấn quyền của Giáo hội về truyền giáo
Huấn quyền của Giáo hội về truyền giáo rất phong phú và đa dạng. Phần này không nhằm trình bày toàn bộ Huấn quyền của Giáo hội về Truyền giáo nhưng chỉ sơ lược một vài yếu tố quan trọng của Huấn quyền này. Theo linh mục Roger P. Schroeder, SVD:
Ngày nay, giáo huấn chính thức của Giáo hội Công giáo về truyền giáo dựa trên ba nền thần học về sứ vụ: việc tham dự vào sứ vụ của Thiên Chúa Ba Ngôi (missio Dei), việc phục vụ Vương quốc Thiên Chúa mang lại sự giải phóng, và việc công bố Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu Tinh của toàn thể nhân loại. Một đàng, một nền thần học có thể nổi bật trong bối cảnh đặc thù nào đó; nhưng đàng khác, mỗi nền thần học trong tính đa dạng của nó và được xây dựng trên truyền thống Kitô giáo, mang lại một sự đóng góp quan trọng cho toàn thể. Dưới viễn tượng Công giáo, chúng có thể họp thành một tổng hợp lành mạnh cho sự hiểu biết về việc truyền giáo, cung cấp nền tảng cho việc đáp lại tiếng gọi truyền giáo trong thế giới hôm nay.[24]
Cũng theo Cha Schroeder, SVD, ngoài các tài liệu của Công đồng Vatican II về truyền giáo còn có ba văn kiện của Giáo hội về truyền giáo quan trọng nhất, đó là: Evangelii Nuntiandi (1975), Redemptoris Missio (1990) và Đối thoại và Loan truyền (1991). Người viết chọn Thông điệp Redemptoris Missio (1990) của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II để trình bày một khái quát. Lý do người viết chọn thông điệp này để trình bày là theo Cha Schroeder, SVD “dưới khía cạnh truyền giáo học, đây là văn kiện quan trọng nhất của triều đại Giáo hoàng Gioan Phaolô II và trình bày cách hệ thống nhất suy tư về việc truyền giáo”.[25]
Thông điệp Redemptoris Missio chứa đựng ba yếu tố nền tảng về huấn quyền của Giáo hội về truyền giáo. Đó là:
1.1. Lấy Chúa Kitô làm trọng tâm và làm điểm quy chiếu
Thông điệp này trình bày nền tảng của việc truyền giáo dựa trên một nền thần học quy về Đức Kitô, cách riêng trong chương I. Tuy vẫn khẳng định giáo huấn của Vaticanô II rằng, con người có thể được cứu độ mặc dù không có đức tin minh thị vào Đức Kitô (RM 10), nhưng cần phải thêm rằng mọi ân sủng đều được ban qua Đức Kitô và chỉ qua Người mà thôi. “Vì thế, không ai có thể hiệp thông với Thiên Chúa mà không qua Đức Kitô, nhờ tác động của Thánh Thần … Tuy có thể nhìn nhận những hình thức và cấp độ trung gian khác nhau, nhưng các hình thái trung gian ấy chỉ có ý nghĩa và giá trị nhờ sự trung gian của Đức Kitô mà thôi, chứ không được phép coi như song hành hoặc bổ sung cho Người”. Ngoài ra, Giáo hội đã được thiết lập như là bí tích phổ quát của ơn cứu độ. Nhân loại có quyền được tiếp nhận sự thật và sự sống do Tin mừng mang đến, tuy phải theo một đường lối tôn trọng tự do của con người.[26]
1.2. Công cuộc truyền giáo được hiểu theo nghĩa rộng
Thông điệp khai triển khái niệm truyền giáo theo hướng “những chân trời” (chương IV) và “những nẻo đường” truyền giáo (chương V). Liên quan đến các “chân trời” hoặc “hoàn cảnh”. Đứng đầu là “truyền giáo cho dân ngoại” (ad gentes), nghĩa là làm chứng và công bố Tin mừng ở nơi nào Chúa Kitô chưa được biết đến hoặc ở nơi mà Giáo hội chưa được trưởng thành đủ để cho đức tin thấm nhập vào môi trường của mình và loan báo cho những nhóm khác (RM 33). Đây là truyền giáo theo nghĩa chặt. “Hoàn cảnh” thứ hai được mô tả là công tác mục vụ dành cho các tín hữu, và “hoàn cảnh” thứ ba là nơi một thời đã theo đạo mà nay không còn nữa. Việc truyền giáo cho “chân trời” thứ ba mang tên là “loan báo Tin mừng cách mới mẻ” hoặc “tái loan báo Tin mừng” (33). Tuy truyền giáo theo nghĩa chặt được dành cho “dân ngoại”, nhưng phạm trù này có thể được hiểu về các môi trường như là đô thị, giới trẻ, các cộng đồng di dân và người nghèo (37b).[27]
1.3. Vấn đề đối thoại liên tôn
Đức Gioan Phaolô II khẳng định rằng đối thoại liên tôn là một phần không thể tách rời khỏi sứ mạng truyền giáo. Giáo hội dấn thân vào đối thoại vì nhận ra dấu ấn của Thiên Chúa trong các tôn giáo khác, nhưng đồng thời vẫn xác tín rằng “ơn cứu độ được ban qua Đức Kitô” (55). Như vậy, đối thoại không thay thế cho việc loan báo Tin mừng: khi tiếp xúc với tín đồ của các tôn giáo khác, người Công giáo luôn tin rằng “Giáo hội là phương thế thông thường của ơn cứu độ, và Giáo hội có đầy đủ những phương thế của ơn cứu độ” (55). Tuy nhiên, Giáo hội nhấn mạnh rằng đối thoại không dựa trên chiến lược vụ lợi, nhưng trên sự tôn trọng hoạt động của Thánh Linh nơi tha nhân (56). Người tham gia đối thoại cần đến với nhau bằng thái độ khiêm tốn, chân thành và tôn trọng sự thật, tránh mọi định kiến hay hời hợt. Chỉ trong tinh thần ấy, đối thoại mới có thể trở thành cơ hội để cả hai bên cùng được phong phú hơn (56). Hơn nữa, đối thoại không chỉ dành riêng cho các chuyên gia, mà mỗi Kitô hữu đều có thể sống điều này trong những gặp gỡ hằng ngày.[28]
Như vậy ba yếu tố nền tảng của Thông điệp Redemptoris Missio có thể coi là ba định hướng cho người di cư tham gia vào việc truyền giáo của mình.
2. Di dân Việt Nam tham gia vào sứ vụ truyền giáo trong bối cảnh Thái Lan
Di dân Việt Nam tại Thái Lan phần lớn là anh chị em tín hữu đến từ hai giáo phận Vinh và Hà Tĩnh, vốn nổi tiếng với đời sống đức tin phong phú và sốt sắng. Nếu được hướng dẫn và đồng hành đúng đắn, tinh thần dấn thân của họ có thể trở thành nguồn lực truyền giáo rất lớn. Phần dưới đây sẽ gợi mở một số cách thức cụ thể để anh chị em di dân Công giáo có thể tham gia và đóng góp tích cực cho sứ mạng truyền giáo.
2.1. Thực trạng truyền giáo của người giáo dân nói chung
Ở nhiều giáo xứ, chúng ta vẫn thường thấy những phong trào truyền giáo được phát động, tổ chức những chuyến đi đến vùng này vùng kia với phương tiện và trang thiết bị rất hoành tráng. Nhưng thử hỏi, sau những đợt rầm rộ ấy, chúng ta gặt hái được gì, hay chỉ là chút náo động rồi lại lắng xuống như ban đầu? Nhiều người trong chúng ta có lẽ đã từng tham dự và cũng nhận ra rằng, nhu cầu sâu xa của người dân nghèo ở vùng sâu vùng xa không chỉ là cơm áo hay những vật chất mà ta mang đến, mà còn là sự đồng hành, sẻ chia cuộc sống. Đó mới là món quà thực sự có ý nghĩa. Tuy nhiên, thực tế cho thấy chúng ta chưa làm được nhiều cho tiêu chí này, bởi chưa đủ nhiệt huyết để sẵn sàng hy sinh thời gian và công sức cho công cuộc truyền giáo.[29]
Trong khi đó, xã hội hôm nay ngày càng bị thế tục hóa, các giá trị thực dụng được đề cao, lôi cuốn con người vào cuộc đua tranh quyền lợi, địa vị, danh vọng và hưởng thụ, khiến các giá trị đạo đức luân lý bị coi nhẹ, thậm chí bị xem là lỗi thời. Hệ quả là nhiều người trẻ rơi vào khủng hoảng ý nghĩa sống và khủng hoảng đức tin. Chính vì vậy, người giáo dân, đặc biệt là anh chị em di dân, muốn dấn thân cho sứ vụ truyền giáo cần chuẩn bị cho mình những hành trang thiết yếu: chăm sóc đời sống thiêng liêng, trau dồi kiến thức đức tin và sống đạo cách cụ thể qua những giá trị luân lý hằng ngày.
2.2. Chăm sóc đời sống tâm linh
Lời mời gọi truyền giáo tự bản chất phát xuất từ lời mời gọi nên thánh. Một người chỉ thật sự trở thành nhà truyền giáo khi dấn thân bước đi trên con đường thánh thiện. Đức Gioan Phaolô II đã khẳng định: “Sự thánh thiện là nền tảng cốt yếu và điều kiện tuyệt đối không thể thay thế để chu toàn sứ vụ của Hội Thánh” (RM 90). Như thế, ơn gọi truyền giáo và ơn gọi nên thánh gắn liền với nhau như hình với bóng. Để nên thánh, người tín hữu cần có một đời sống thiêng liêng phong phú, nghĩa là có kinh nghiệm sống với Đức Kitô và xây dựng mối tương quan mật thiết với Ngài. Bởi lẽ, ơn gọi cốt lõi của Kitô hữu chính là sự hiệp thông sâu xa với Đức Kitô. Chúng ta không thể loan báo Tin mừng nếu chính mình chưa một lần thật sự gặp gỡ Ngài.
Con đường ấy khởi đi từ việc cảm nghiệm tình con thảo đối với Thiên Chúa là Cha: siêng năng học hỏi Kinh Thánh, tham dự Thánh lễ, lãnh nhận các bí tích và nhất là kiên trì trong cầu nguyện. Chính nhờ cầu nguyện mà con người thiết lập được mối dây liên kết mật thiết với Thiên Chúa, đón nhận thánh ý Ngài và để Chúa Thánh Thần tự do uốn nắn tâm hồn mình. Những cảm nghiệm thiêng liêng ấy, khi được chia sẻ, sẽ trở thành nhịp cầu giúp người khác nhận ra Thiên Chúa là Tình Yêu.[30]
2.3. Trau dồi kiến thức đạo lý
Để trở thành một “người chuyên môn” trong công tác tông đồ, ngoài lòng nhiệt huyết, nhà truyền giáo cần được trang bị kiến thức căn bản về Kinh Thánh và giáo huấn của Hội Thánh. Đồng thời, Kitô hữu cũng phải mở rộng hiểu biết trong nhiều lãnh vực khác như văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật, y tế, luân lý đạo đức và đặc biệt là về các tôn giáo bạn trong bối cảnh Thái Lan.
Chỉ khi đó, người truyền giáo mới có thể vừa hội nhập đức tin và văn hóa Kitô giáo vào môi trường cụ thể, vừa tiếp cận tri thức nhân loại để giúp người khác khám phá ra con đường dẫn đến chân lý, con đường của Đức Kitô. Nhờ hành trang toàn diện ấy, sứ vụ truyền giáo không chỉ phong phú và hiệu quả hơn, mà còn giúp nhà truyền giáo thêm tự tin khi thi hành sứ mạng của mình.[31]
2.4. Thực hành đời sống luân lý
Một tông đồ nhiệt thành trước hết là một Kitô hữu trưởng thành. Nhưng để được coi là người Kitô hữu trưởng thành thì cần phải có đời sống nhân bản làm nền tảng. Như vậy, người truyền giáo di dân được mời gọi luôn lớn lên trong đời sống luân lý đạo đức, để có thể đảm nhận trách nhiệm được giao phó. Do đó, họ cần có nơi mình những đức tính căn bản như: khiêm nhường, vị tha, hy sinh, kiên nhẫn, biết tự trọng, có văn hoá, trung thực, … đồng thời phải biết hướng đến việc phục vụ tha nhân: nhân ái, yêu thương, kính trọng mọi người, biết lắng nghe, chia sẻ, đồng cảm với những người khó khăn đang cần đến sự trợ giúp. Nhờ vậy, họ luôn là người tiên phong, năng động trong việc dấn thân vào các lãnh vực hầu làm chứng tá sống động cho Thiên Chúa, bởi những ai sống trong Thần Khí là những người sống trong bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ (Gl 5,22).[32]
KẾT LUẬN
Tóm lại, loan báo Tin mừng là sứ mạng mà mỗi Kitô hữu được mời gọi thực hiện qua những hành động cụ thể với tinh thần nhiệt thành và hăng say. Dĩ nhiên, trên hành trình ấy sẽ có không ít khó khăn và trở ngại, nhưng qua dòng chảy lịch sử, Giáo hội vẫn không ngừng duy trì và phát triển công cuộc truyền giáo nhờ những nỗ lực với lòng kiên trì.
Trong tinh thần hiệp hành của Thượng Hội đồng, mỗi Kitô hữu được mời gọi góp phần bằng chính khả năng và hoàn cảnh của mình. Tùy môi trường và điều kiện khác nhau, chúng ta có thể tìm ra những phương thế loan báo Tin mừng phù hợp, để những người chưa biết Chúa có cơ hội nhận ra tình yêu và lòng thương xót của Ngài.
Lịch sử cứu độ đã cho thấy: dân Israel được dẫn đến Ai Cập để rồi qua những việc lạ lùng, người Ai Cập nhận ra có một Thiên Chúa quyền năng; Giáo hội sơ khai, dù chịu bách hại, nhưng chính nhờ đó hạt giống đức tin được gieo vãi khắp nơi. Cũng vậy, ngày nay, mỗi bước chân của người Kitô hữu, đặc biệt là anh chị em di dân, đều có thể trở thành nhịp cầu gieo hạt giống Tin mừng. Với sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và sự đồng hành của các mục tử, chắc chắn họ sẽ là những cộng tác viên đắc lực trong cánh đồng truyền giáo hôm nay.
Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 150 (tháng 11 & 12 năm 2025)
Những tin cũ hơn
Di Dân Việt Nam Với Sứ Mệnh Truyền Giáo
Giáo Xứ Kim Mai: Thánh Lễ Lên Đường.
Chúa nhật về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa
“Shalom aleichem” – "Bình an cho anh em"
Chút tâm tình đọng lại sau đại lễ LTX của Chúa
GX Châu Sơn: Thánh lễ kính Lòng Chúa Thương Xót
Vui Học Giáo Lý Thánh Nữ Faustina
Stanislaus: Giám mục dám chết vì công lý
Thánh lễ… nơi Chúa Phục Sinh gặp ta
THƯ NGỎ gửi Cộng Đoàn Dân Chúa
Bổ nhiệm Giám mục cho Giáo hội Việt Nam
Trực tuyến: Thánh lễ Chúa Nhật II Phục Sinh
Sự Sống bắt đầu lại từ những vết thương
Thánh lễ giỗ Cha cố GB Nguyễn Quốc Thuần
Chạm đến vết thương- chạm đến Lòng Thương Xót
277 Câu Trắc Nghiệm GIÁO LÝ DỰ TÒNG
Nghi thức lễ Gia Tiên
Thánh lễ Truyền chức Linh Mục -2023
Vui Học Giáo Lý 531 Câu Trắc Nghiệm XƯNG TỘI & RƯỚC LỄ 1
Khai mạc Hội nghị thường niên kỳ I/2023
Biên bản Hội nghị thường niên kỳ I/2023
Tân linh mục Phêrô Nguyễn Tiến Đạt: Thánh lễ tạ ơn
Việt Nam và Tòa Thánh ký kết Thỏa thuận
Giáo xứ Phúc Lộc -Mừng lễ Thánh Đa Minh
Giáo xứ Phúc Lộc: Lễ Chúa Ba Ngôi