TIN MỪNG CHÚA NHẬT - LỄ TRỌNG

Chúa Nhật III Thường Niên -Năm A

“Người vào Capharnaum để ứng nghiệm lời tiên tri Isaia đã tiên báo”. (Mt 4,12-23)
Đọc các tin khác ➥
TÌM KIẾM

Toát Yếu Lịch Sử Loan Báo Tin Mừng từ Thế Kỷ XV - XXI

Thứ bảy - 24/01/2026 16:00 | Tác giả bài viết: Lm. Vinh Sơn Nguyễn Cao Dũng SCJ |   27
Chúng ta cần tìm hiểu sự phát triển của Giáo hội Công giáo vượt ra khỏi Âu châu như thế nào,
Toát Yếu Lịch Sử Loan Báo Tin Mừng từ Thế Kỷ XV - XXI

TOÁT YẾU LỊCH SỬ LOAN BÁO TIN MỪNG TỪ THẾ KỶ XV – XXI

Lm. Vinh Sơn Nguyễn Cao Dũng SCJ
24/01/2026

WHĐ (24/01/2026) - Chúng ta cần tìm hiểu sự phát triển của Giáo hội Công giáo vượt ra khỏi Âu châu như thế nào, và tiếp theo phát triển hạt giống Tin mừng tại các xứ truyền giáo này theo hai giai đoạn thế kỷ XV-XVIII và thế kỷ XIX-XXI.

DẪN NHẬP

I. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA GIÁO HỘI VÀ TRUYỀN GIÁO THẾ KỶ XV–XVIII

1. Châu Phi

2. Châu Mỹ

3. Tiến về vùng Viễn Đông

II. SỨ MẠNG TRUYỀN GIÁO VÀ SỰ PHÁT TRIỂN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO (THẾ KỶ XIX ĐẾN HIỆN TẠI)

KẾT

 

DẪN NHẬP

Loan báo Tin mừng - Truyền giáo bùng nổ mạnh mẽ từ thế kỷ XV, là kết quả sự hội tụ của nhiều yếu tố tôn giáo, lịch sử, chính trị, kinh tế và xã hội, nhưng đáng chú ý nhất là các yếu tố chính sau:

– Các Dòng tu truyền thống mang tinh thần loan báo Tin mừng như Dòng Phanxicô, Dòng Đa Minh, dòng Augustin... đặc biệt là các dòng tu mới như Dòng Tên (thành lập năm 1540), mang trong mình một nhiệt huyết truyền giáo mạnh mẽ. Các thừa sai tin vào sứ mệnh phổ quát của Kitô giáo là mang Tin mừng đến “tận cùng trái đất” (Cv 1,8).

– Sự phát triển của la bàn, thiên văn kế (astrolabe), bản đồ hàng hải chính xác hơn, và đặc biệt là thiết kế tàu Caravel (tàu cánh buồm nhỏ, linh hoạt của Bồ Đào Nha) cho phép con người thực hiện những hành trình dài hơn và an toàn hơn trên biển, vì thế các nhà thám hiểm, các thừa sai truyền giáo có thể đi đến Châu Mỹ, Châu Phi, và Châu Á xa xôi...

– Các vương triều Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha khám phá, chinh phục các vùng đất mới được quyền bảo trợ (Patronato Real -Tây Ban Nha; Padroado - Bồ Đào Nha) đặc biệt từ Giáo hoàng để tổ chức và tài trợ cho các hoạt động truyền giáo ở các vùng đất này. Đổi lại, các triều đình này có quyền bổ nhiệm giám mục, xây dựng nhà thờ, và kiểm soát các nguồn lực của Giáo hội tại các thuộc địa. Đảm bảo sự hỗ trợ mạnh mẽ cho các nhà truyền giáo ở hai quốc gia này.

– Thánh Bộ Truyền bá Đức tin (Sacra Congregatio de Propaganda Fide) thành lập vào năm 1622, đến năm 1967 được đổi tên thành Bộ Loan báo Tin mừng cho các Dân tộc (Congregatio pro Gentium Evangelizatione) và năm 2022 được tái cấu trúc và đổi tên thành Bộ Loan báo Tin mừng (Dicasterium pro evangelizatione). Bộ này có nhiệm vụ tổ chức, điều phối và thúc đẩy các hoạt động truyền giáo của Giáo hội Công giáo trên toàn thế giới, đặc biệt là ở các vùng đất mà Tin mừng chưa được biết đến hoặc đang phát triển.

Chúng ta cần tìm hiểu sự phát triển của Giáo hội Công giáo vượt ra khỏi Âu châu như thế nào, và tiếp theo phát triển hạt giống Tin mừng tại các xứ truyền giáo này theo hai giai đoạn Thế kỷ XV-XVIII và Thế kỷ XIX-XXI.

 

I. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA GIÁO HỘI VÀ TRUYỀN GIÁO THẾ KỶ XV–XVIII

Bắt đầu giai đoạn thế kỷ XV–XVII là sự bùng nổ truyền giáo cho các vùng đất xa xăm chưa biết Tin mừng: Châu Á – Phi – Mỹ đã ghi dấu bước chân của các thừa sai.

“Thừa sai Công giáo không phải là một thừa sai của nước mình, mà phải là vị thừa sai của Chúa Kitô, các vị phải cư xử cách nào, để những ai đến gặp các vị lần đầu tiên, luôn thấy rõ ràng các vị là thừa tác viên của một tôn giáo không xa lạ đối với bất cứ đất nước nào. Bởi vì, tôn giáo này ôm ấp tất cả những ai “thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần và trong chân lý” và bởi vì trong tôn giáo này, “không còn phân biệt Hy lạp hay Do thái, cắt bì hay không cắt bì, dân mọi rợ hay dân Xythar, nô lệ hay tự do nữa, song chỉ có Chúa Kitô là tất cả và ở trong mọi người” (Cl 3,11)”.[1]

1. Châu Phi

Châu Phi đã được lãnh nhận Tin mừng ngay từ thế kỷ đầu của Kitô giáo, và tiếp đó, đã phát triển thành những giáo đoàn phồn thịnh tại Alexandria, Carthage (Tunisia), Ethiopia. Thế nhưng, khi Hồi giáo ra đời từ thế kỷ VII và nổi lên chinh chiến, bành trướng, thì tất cả các vết tích Kitô giáo tại các giáo đoàn Phi Châu đã bị lần lượt quét sạch.[2]

Lục địa Châu Phi biết đến Kitô giáo từ đầu thiên niên kỷ I. Các Giáo phụ Châu Phi, đặc biệt là Cyprian (khoảng 200-254), giám mục Carthage, và Augustine (354-430), giám mục Hippo, là những chứng nhân vĩ đại nhất của Giáo hội La tinh thời cổ đại. Nhưng ngày nay không còn lại gì về quá trình Kitô giáo thời kỳ này, vì Hồi giáo hóa khu vực vào thời Trung cổ đã xóa bỏ hoàn toàn.[3]

Vào thế kỷ XV, sau cuộc thánh chiến chống Hồi giáo, Bồ Đào Nha bành trướng dọc theo duyên hải Châu Phi từ Ceuta (1415) qua mũi Hảo Vọng (1486), và tới Mozambique (1498). Đó là khởi điểm công cuộc rao giảng Tin mừng cho Châu Phi. Trong vòng vài năm, vương quốc Congo (phía Nam hạ lưu sông Zaire) đã mang lại những triển vọng lớn lao nhất. Các thừa sai đã rửa tội cho vua Congo năm 1491. Sau đó Giáo hội Congo phát triển mạnh dưới thời vua Anfonso I (1506 - 1545).[4]

Sang thế kỷ XVII, các thừa sai Pháp đến Côte d’Ivoire loan báo Tin mừng, hoàng tử con vua Assinie được rửa tội năm 1691. Các cha dòng truyền giáo Vinh Sơn hoạt động ở Madagascar, nhưng không được lâu dài (1648-1674). Dòng Chúa Thánh Thần khởi sự truyền giáo tại Sénegal (1776). Một số linh mục khác lo việc mục vụ cho dân tản cư, thực dân và nô lệ đảo Bourbon (Réunion) và đảo Pháp (Maurice).[5]

Vào giai đoạn này, so với hai lục địa Châu Á và Châu Mỹ, việc truyền giáo tại Châu Phi không có gì nổi bật. Một số tu sĩ đi theo các thương gia Bồ Đào Nha, dừng lại ở một vài cảng ở Châu Phi, xây cất vài nhà nguyện dành cho người đồng hương ở nơi đây, rồi từ đó giảng đạo cho những vùng lân cận, chưa có những dự án tiến sâu hơn vào nội địa,[6] có lẽ vì khí hậu nóng khắc nghiệt và những hiểm nguy phát sinh do chưa khám phá và giải mã nền văn hóa của các dân tộc tại lục địa đen này.

2. Châu Mỹ

Gắn liền với công cuộc thám hiểm, việc loan báo Tin mừng cho các vùng đất mới trên thế giới lệ thuộc vào những điều kiện vật chất, thương mại lẫn chính trị, ban đầu của các đoàn viễn du đến lệ thuộc vào các vua chúa, chính quyền của các vương quốc bảo trợ.

Christopher Columbus đã đặt chân đến Châu Mỹ vào ngày 12.10.1492. Giáo hội Công giáo Tây Ban Nha đã đưa ra hai quyết định: mang niềm tin Kitô đến cho các dân mới này, và mở rộng quyền bính chính trị của mình trên các sắc dân này.[7] Thế nhưng xảy ra sự tranh chấp thuộc địa giữa Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha tại Châu Mỹ La tinh. Đức giáo hoàng Alexandre VI đứng ra làm trọng tài. Năm 1493, ngài chia những phần lãnh thổ khám phá được về phía Tây cho Tây Ban Nha và phía Đông cho người Bồ Đào Nha (vốn trước đó đã được Tòa thánh cho vua Bồ Đào Nha quyền phán quyết đời cũng như đạo tại những vùng họ chiếm của Hồi giáo hay khám phá được). Giáo hoàng ủy thác cho hai vị vua trách nhiệm tổ chức Giáo hội tại các miền liên hệ như chia địa phận, cắt cử giám mục... Cách nào đó, các vị vua của hai nước trở thành thủ lãnh của những Giáo hội mới lập. Giáo hội dễ dàng phê chuẩn việc bổ nhiệm các vua, không can thiệp trực tiếp. Toàn bộ sự ủy nhiệm này tạo nên quyền Bảo trợ.[8]

Sự phân chia này bắt đầu được định hình những đường biên mới của lục địa Châu Mỹ La tinh tương lai, cả về mặt ngôn ngữ. Và đã có những sự lạm dụng chẳng hạn như bên vùng đất thuộc Tây Ban Nha: Trước cổng làng, quân lính treo các mệnh lệnh ghi rõ ràng (requerimiento) là các dân cư trong làng phải gia nhập Kitô giáo và thừa nhận quyền bính tối cao của Tây Ban Nha.[9] Chỉ một số ít tu sĩ, đứng đầu là các tu sĩ dòng Đaminh như Antonio de Montesino và Bartholomée de Las Casas, đã có can đảm lên tiếng chống lại những lạm dụng của chính quyền bảo hộ thuộc địa và bênh vực cho quyền tự trị của các thổ dân ở đây. Sau khoảng gần 50 năm, các tộc dân thổ địa vừa vì sức yếu, vừa vì có sự chia rẽ giữa các tộc thổ với nhau, đã phải chịu khuất phục ách thống trị của Tây Ban Nha và toàn dân trở thành Kitô hữu ít là trên danh nghĩa.

Các tu sĩ dòng Phanxicô, dòng Đaminh, dòng Augustin, rồi trong thời kỳ thứ hai, các tu sĩ dòng Tên đã là những tác nhân chính trong việc loan báo Tin mừng ở châu Mỹ La tinh. Các sử gia của Giáo hội vẫn thừa nhận rằng ở châu lục này “các thành phần thuộc các dòng tu đã đóng một vai trò có tính quyết định trong lịch sử truyền giáo và Giáo hội”.[10]

Trong lãnh địa của mình ở Châu Mỹ La tinh, chính quyền Tây Ban Nha nghiêm túc hơn trong trách nhiệm tổ chức Giáo hội. Từ 1511 đến 1620, họ thành lập được 34 Toà giám mục. Các giám mục này thường là tu sĩ ở chính quốc và có ý thức trách nhiệm cao.

Tại Panama, Paraguay, và Uruguay, các tu sĩ Dòng Tên đảm nhiệm việc rao giảng Tin mừng và an sinh các chủng tộc du mục. Các ngài định cư họ trong các Chiêu thôn (Reductions). Đó là những làng Công giáo không có thực dân bóc lột. Chiêu thôn đầu tiên ra đời năm: 1610. Dần dần có đến 30 thôn quy tụ khoảng 150.000 cư dân.[11]

Cuộc Phúc Âm hóa xứ Canada khởi sự với việc thành lập Québec (1608) do Samuel Champlain, Toàn quyền ở Québec mời các tu sĩ Récollets (Dòng Phanxicô cải tổ) đến đây năm 1615. Việc truyền giáo bị đình chỉ khi nước Anh chiếm Québec (1629). Từ 1632, công việc được trao cho các cha Dòng Tên. Năm 1639, Québec đón nhận những nữ tu đầu tiên gồm ba chị dòng Bệnh viện và ba chị dòng Ursulines. Các cha Xuân Bích thì định cư tại Montréal năm 1642.

Đạo Công giáo lần đầu tiên đến các vùng lãnh thổ hiện đang hình thành Hoa Kỳ trước cuộc Cải cách Tin lành, với những nhà thám hiểm và người định cư Tây Ban Nha ở Florida ngày nay: (1513), Nam Carolina (1566), Georgia (1568–1684) và phía tây nam. Thánh lễ Công giáo đầu tiên được tổ chức tại nơi sẽ trở thành Hoa Kỳ là vào năm 1526 bởi các tu sĩ Đa Minh là linh mục Antonio de Montesinos và linh mục Anthony de Cervantes, phục vụ cho những người thuộc địa San Miguel de Gualdape trong ba tháng thuộc địa tồn tại.[12]

Đạo Công giáo du nhập vào các thuộc địa của Anh (trên đất Hoa kỳ hiện nay) với việc thành lập bang Maryland. Maryland là một trong số ít vùng trong số các thuộc địa của Anh ở Bắc Mỹ có dân số Công giáo khá lớn. Tuy nhiên, thất bại năm 1646 của phe Bảo hoàng trong Nội chiến Anh đã dẫn đến các luật nghiêm ngặt chống lại giáo dục Công giáo và trục xuất các tu sĩ dòng Tên khỏi thuộc địa, bao gồm cả Andrew White, phá hủy trường học của họ tại Calverton Manor. Do nhập cư, đến năm 1660, dân số của bang này dần chủ yếu theo đạo Tin Lành. Trong phần lớn thời kỳ thuộc địa của Maryland, các tu sĩ Dòng Tên tiếp tục điều hành các trường Công giáo một cách bí mật.

Tại các vùng thuộc địa của Pháp, Giáo hội Công giáo đã thành lập các cơ quan truyền giáo như Sault Ste. Marie, Michigan (1668), St. Ignace trên eo biển Mackinac, Michigan (1671) và Holy Family tại Cahokia, Illinois (1699) và sau đó là các thuộc địa và pháo đài ở Detroit (1701), St. Louis, Mobile (1702), Kaskaskia (1703), Biloxi, Baton Rouge, New Orleans (1718) và Vincennes (1732). Vào cuối thế kỷ XVII, các cuộc thám hiểm của Pháp, bao gồm các mục tiêu về chủ quyền, tôn giáo và thương mại, đã thiết lập một chỗ đứng vững chắc trên dọc theo sông Mississippi và Bờ Vịnh. Các khu định cư nhỏ được thành lập dọc theo bờ sông Mississippi và các nhánh chính, từ Louisiana đến tận phía bắc của vùng được gọi là quốc gia Illinois.[13]

3. Tiến về vùng Viễn Đông

Thế kỷ XVI có các nhà truyền giáo bắt đầu đi đến những cánh đồng truyền giáo lớn hơn là châu Á được trao cho các thừa sai thuộc nhiều dòng: Đa Minh, Phanxicô, Augustinô, Hội thừa sai Paris và Dòng Tên.[14] Các thừa sai đến Ấn độ, Mã Lai, Philippin, Macao, Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam. Trong hành trình truyền giáo, nổi bật nhất là Thánh Phanxicô Xavie.

Thánh Phanxicô Xaviê (1506-1552) Dòng Tên chỉ định truyền giáo cho Ấn Độ, ngài đến Goa, thủ phủ Ấn Độ thuộc Bồ Đào Nha vào năm 1542. Năm 1545, ngài rời Goa đến Mã Lai thuộc quần đảo Sonde. Năm 1549, cùng hai linh mục bạn, Phanxicô đến loan báo Tin mừng Nhật Bản miền Kyushu. Năm 1551, ngài được gọi về Ấn Độ giữ chức Giám tỉnh. Nhưng năm 1552, ngài quyết định đến Trung Hoa và qua đời tại đảo Tam châu (thuộc Quảng châu).

Khi các thừa sai đến Ấn Độ thì đã có sự hiện diện của Kitô giáo tại miền nam từ thế kỷ V. Đó là những kitô hữu theo phụng vụ Syriaque thuộc phái Nestorio miền Mésopotamia. Người Bồ Đào Nha đến lập cư tại Goa đã ép buộc họ phải theo Giáo hội La tinh, gây nên xung đột và ly giáo. Goa có Tòa giám mục từ 1533, sau trở thành tòa Trưởng giáo cho cả vùng Á châu. Từ Goa qua Cap đến Trung Hoa, người Bồ Đào Nha thử nghiệm việc rao giảng theo phương pháp xóa sạch một thời gian. Rất nhiều người theo đạo nhưng chưa thiết lập được một Giáo hội thực sự nào.

Đến Trung Quốc, người Bồ Đào Nha đầu tiên đến lập cư tại Macao năm 1557. Năm 1565, dòng Tên lập cơ sở truyền giáo, ba năm sau, Macao có giám mục Melchior Carneiro, SJ.

Cha Matteo Ricci và các giáo sĩ dòng Tên biết cách dung hợp với truyền thống Trung Hoa, cũng như thông qua các hoạt động giáo dục, truyền bá khoa học kỹ thuật, tạo được rất nhiều thiện cảm với Thanh đế Khang Hy, nhờ đó việc truyền giáo được thuận lợi hơn.[15]

Các thừa sai Đaminh, Augustin cũng đến Macao để vào Trung Hoa hoặc Việt Nam, công cuộc truyền giáo rất thành công. Thời các vua đầu tiên nhà Mãn Thanh: Sùng Trinh (1644 - 61) rồi Khang Hy (+1722), Giáo hội Trung Hoa tràn trề hy vọng, với gần 300.000 tín hữu và 120 thừa sai. Các dòng: Dòng Tên, Đaminh, Phanxicô, Augustin đều có tu sĩ địa phương. Năm 1683, tu sĩ Gregori Lô (+1691) dòng Đaminh người Trung Hoa được phong giám mục, Đại diện Tông tòa Nam Kinh. Thế nhưng, cuộc tranh luận về lễ nghi và những xung đột giữa Bồ Đào Nha bảo trợ với Thánh bộ Truyền giáo làm các hoàng đế bực bội và gây nên nhiều cuộc bách hại. Chỉ các nhà bác học dòng Tên tạm được phép ở lại Bắc Kinh. Tình hình thêm suy sụp khi dòng Tên bị đóng cửa và hoàn toàn bi đát sau cuộc cách mạng Pháp.

Tại Ấn Độ và Trung Hoa, các tu sĩ dòng Tên đã nhận ra tầm vĩ đại của những nền văn minh hằng nghìn năm này để áp dụng chính sách thích nghi của Kitô giáo Âu châu. Cũng dựa vào kinh nghiệm đó, Thánh bộ truyền giáo đưa ra những chỉ thị cụ thể năm 1659 về việc tôn trọng văn hóa địa phương.

Các thương nhân Bồ Đào Nha, Hà Lan và thừa sai Công giáo đã đến Đông Timor từ thế kỷ XVI (1515) cho đến thế kỷ XVII, Kitô giáo mới ảnh hưởng liên tục kể từ năm 1642 khi Đông Timor bị người Bồ Đào Nha chiếm làm thuộc địa.[16]

Các thừa sai Công giáo đến Myanmar từ thế kỷ XVI (1554) ban đầu được đón tiếp nồng hậu, nhưng chiến tranh và những cuộc bách hại sau đó đã gây ra nhiều khó khăn. Tuy nhiên, người Công giáo đã thiết lập được nhiều cứ điểm truyền giáo vào đầu thế kỷ XIX (1806).[17]

Năm 1567, hai tu sĩ dòng Đaminh người Bồ Đào Nha đến kinh đô Thái Lan để giúp các thương gia đã có mặt từ năm 1553. Trong thế kỷ XVII, người Công giáo đã gây ảnh hưởng đáng kể trong triều đình Thái Lan và phát triển dưới thời vua Narai. Tuy nhiên, những cuộc bách hại khiến cho công cuộc truyền giáo bị khựng lại trong một thế kỷ rưỡi.[18]

Năm 1564, người Tây Ban Nha bắt đầu đến Philippines. Liền đó các dòng Augustin, Dòng Tên, Dòng Phanxicô và Dòng Đa Minh đã đến và lập tỉnh dòng để truyền giáo cho vùng Châu Á.

Đạo Công giáo được người Bồ Đào Nha đưa vào Indonesia hồi thế kỷ XVI, nhưng công trình đã bị lu mờ sau khi nước này bị người Hà Lan chiếm đóng vào thế kỷ XVII (1605). Người Hà Lan dẹp bỏ đạo Công giáo và yểm trợ đạo Tin Lành

Công giáo đã đến Brunei từ thế kỷ XVI (1521) theo đoàn thám hiểm của Magellan, nhưng mãi nhiều thế kỷ sau, đạo Công giáo mới được thiết lập.[19]

Cha Gaspar da Cruz dòng Đaminh Bồ Đào Nha đến Campuchia năm 1554, Một thừa sai khác đến Campuchia từ Malacca (Malaysia) năm 1555, kế đó là cha Silvestro d’Azevedo dòng Đaminh người Bồ Đào Nha năm 1584.

Các thừa sai dòng Tên đến Nhật Bản, nhiều người Nhật xin trở lại vì sự hấp dẫn của văn minh tiến bộ Âu châu, trong bối cảnh phong kiến chia rẽ. Số tín hữu gia tăng lên đến 300.000. Đa số tập trung ở phía Nam, đảo Kyushu, miền Kyoto và Edo (Tokyo). Vị có công lớn trong việc Tổ chức Giáo hội tiên khởi này là cha Valignano, giữ chức vụ kinh lược sứ (SJ, 1579-1606). Năm 1597, 26 thừa sai và tín hữu bị hành quyết tại Nagasaki. Năm 1614, chiếu chỉ Daifusanna cấm đạo trên toàn quốc. Cho đến giữa thế kỷ XIX (1865), Nhật đóng cửa cấm tuyệt đối các thừa sai.

Vị thừa sai Công giáo đặt chân lên Vientiane Lào vào năm 1642 nhưng chỉ ở lại cho đến năm 1647 do sự chống đối quyết liệt của tăng giới Phật giáo. Về sau, vào năm 1885, các thừa sai MEP đến nước Lào và đã thuyết phục một số người theo đạo. Một sứ vụ được thiết lập vào năm 1899.[20]

Cuối thế kỷ XVIII, Giáo hội Triều Tiên được thiết lập do chính người bản địa: Năm 1784, một học sĩ trẻ tên Yi Seung Houn, nhân dịp đi Bắc Kinh, được đón nhận Tin mừng. Trở về quê hương ông hợp tác với một học sĩ khác là Yi Piek, biên soạn Thần học theo truyền thống Khổng tử và tổ chức giáo đoàn, có thánh lễ, rửa tội và giáo cải. Ông xin các nhà truyền giáo ở Bắc Kinh gửi linh mục đến. Thế nhưng, bách hại đã tiêu diệt toàn bộ giáo đoàn tiên khởi này.

Vùng Châu Á thuộc Nga, nhờ việc nước Nga bành trướng về phía Đông và cuộc chinh phục Siberi, Giáo hội ở đây cũng tổ chức truyền giáo trong thế kỷ XVII, các giám mục ở Kazan đã đưa dân Tartare ở ngoại thành theo đạo. Giáo chủ Philarète thành Tobolsk gửi nhiều thừa sai đến Kamtchatka (1705), Lakoutsk (1724) và mở rộng công cuộc truyền giáo xuống Trung Hoa (1714). Một số tù nhân Nga đã hợp thành một cộng đoàn Chính Thống ở Bắc Kinh từ 1689.[21]

Phong trào truyền giáo phát động tại Châu Mỹ và Châu Á cùng với chế độ Bảo trợ được thiết lập từ Trọng sắc Inter Caetera 1493 và Hiệp ước Tordesillas 1494, mà Đức Alexandre VI ban hành và cam kết với hai Đế quốc hàng hải Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, đã làm cho Giáo hội ý thức được rằng: Chính sách này đã đóng góp và bảo vệ ít nhiều cho công cuộc truyền giáo, nhưng dần dần cũng gây ra nhiều ngăn trở cho nỗ lực rao truyền Phúc Âm ngày càng đòi hỏi cao hơn.[22]

Năm 1622, Đức Giáo hoàng Grêgôriô XV (triều đại 1621–1623) lập Thánh bộ Truyền bá Đức tin (Congregatio de Propagande fidei). Bộ có trách nhiệm tổ chức và quản trị mọi phần đất truyền giáo. Kế tiếp Đức Giáo hoàng Urbanô VIII (triều đại 1623–1644) thành lập đại học truyền giáo đào tạo các thừa sai.

Vào năm 1640 Thánh bộ bắt đầu một giai đoạn mới. Giáo hội không khoán trắng cho các Hoàng đế Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha nắm chủ động việc truyền giáo; đồng thời giúp các thừa sai ý thức bổn phận là giảng Tin mừng của Đức Kitô chứ không phải là công chức phục vụ cho các cường quốc, kể cả chính quốc gia mình. Đó là lý tưởng mà Thánh bộ muốn nhắm tới, nhưng không phải tất cả mọi người đều chấp thuận dự án đó.

Nhờ thông tin của các thừa sai, tại Châu Âu xuất hiện nền văn hóa truyền giáo, giúp người Tây phương hiểu hơn về các nền văn hóa và tôn giáo của các vùng ngoài Châu Âu, đặc biệt nền văn học truyền giáo phát triển nhanh chóng từ thế kỷ XVI. Từ 1549 - 1619, có đến 98 cuốn sách tiếng Pháp nói về nước Nhật, còn sách về Trung Hoa thì nhiều vô kể. Hai bộ sách ấn bản định kỳ của dòng Tên phổ biến rộng rãi trong quần chúng. Về Việt Nam có Histoire du Royaume du Tonkin - Lịch sử xứ Tonkin của cha Đắc Lộ; Delle Missioni de padri della Compagnia di Giesu – Sứ vụ truyền giáo của các cha dòng Tên của cha Marini cũng như các tập “Relationes” của cha Borri và Tissanier đã giúp biết bao người hiểu biết nước Việt.

Truyền giáo và giáo dục là hai hoạt động thường đi đôi với nhau trong lịch sử Giáo hội Công giáo. Các nhà truyền giáo đóng vai trò như sứ giả tiền phong, thiết lập mối quan hệ với người dân bản địa và tìm cách rao giảng, loan báo đức tin Kitô giáo. Giáo dục trở thành một công cụ mạnh mẽ để truyền bá thông điệp Kitô giáo và đồng thời truyền bá các giá trị văn minh phương Tây vốn được (quan niệm thời đó) xem là khai hóa các nền văn hóa còn sơ khai. Trường học được lập ra để giảng dạy về tôn giáo, văn hóa và kiến thức phương Tây.

Giáo dục tại các xứ truyền giáo có tác động sâu sắc đến xã hội bản địa:

– Giúp nâng cao trình độ biết chữ và hiểu biết và giới thiệu những ý tưởng, kiến thức và khoa học... Truyền đạt kiến thức, kỹ năng và giá trị cho cá nhân. Học tập có hệ thống, đào tạo, truyền đạt thông tin.

– Tạo một tầng lớp ưu tú địa phương được đào tạo trong các giá trị tiến bộ gần gũi với văn hóa Tây Phương. Tuy nhiên, sự gần gũi này cũng có thể dẫn đến mất bản sắc văn hóa bản địa và áp đặt các giá trị bên ngoài.

Cả truyền giáo và giáo dục đều đóng vai trò quan trọng trong việc định hình xã hội: truyền bá các giá trị, niềm tin và kiến thức, ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa, chính trị và sự phát triển kinh tế. Cả hai hoạt động truyền giáo và giáo dục đều nhằm mục đích thay đổi niềm tin và hành vi: hướng đến việc ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành động của những người mà các thừa sai tiếp cận. Tuy nhiên, truyền giáo chú trọng vào việc Tin mừng thúc đẩy niềm tin tôn giáo, trong khi giáo dục tập trung vào việc cung cấp kiến thức và phát triển con người.

 

II. SỨ MẠNG TRUYỀN GIÁO VÀ SỰ PHÁT TRIỂN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO (THẾ KỶ XIX ĐẾN HIỆN TẠI)

Thế kỷ XIX-XX, nhiều dòng tu phát triển mạnh, nhiều tu hội mới được thành lập, trong đó có các hội dòng dành phần ưu tiên trong các hoạt động bác ái, xã hội, và văn hóa, đặc biệt dấn thân trong lĩnh vực truyền giáo và giáo dục.

Đặc điểm của giai đoạn thế kỷ XIX-XXI là Tin mừng được mang đến khắp 5 châu, chúng ta trước hết tìm hiểu về truyền giáo và khái quát về sự phát triển Giáo hội Công giáo.

Tin mừng Chúa Kitô mà Giáo hội Công giáo loan báo không những chỉ được mang tới những thị trấn thương mại ven biển như xưa, nhưng mãi tận những nơi cheo leo của non cao trên dãy Hy Mã Lạp Sơn cũng như những hòn đảo chơ vơ giữa Thái Bình Dương.

Công tác truyền giảng Tin mừng không phải chỉ là độc quyền của Giáo hội Công giáo nữa, nhưng rất nhiều Hội Truyền giáo thuộc các Giáo hội Tin Lành cũng được thành lập và đã hoạt động hăng say.

Việc giảng đạo tại Châu Phi tiến triển mau lẹ trong hậu bán thế kỷ XIX. Nhưng công tác truyền giáo ở Châu Á trong thời gian ấy thì khó khăn hơn với những sắc lệnh cấm đạo, khiến cho nhiều thừa sai và người bản xứ phải chết vì đạo. Như đã nói trên đây, một lý do không nhỏ đưa tới những cuộc bách hại là việc lẫn lộn chính sách thực dân với công tác giảng đạo. Tại Châu Mỹ và Châu Úc, con số tín hữu tăng gia nhờ những đợt sóng di cư của người da trắng từ Châu Âu, rồi từ đó tiếp xúc với các thổ dân.[23]

Ngoài các dòng kỳ cựu tham gia sứ vụ truyền giáo như dòng Tên, Phanxicô, Đa Minh, thừa sai Paris, Lazarist, dòng Chúa Thánh Thần, nhiều hội dòng khác cũng bắt đầu tham gia việc truyền giáo. Điểm mới mẻ của thế kỷ này là có thêm những dòng chuyên việc truyền giáo: 53 dòng nam, 200 dòng nữ. Các dòng nữ thường chuyên trách việc giáo dục, bác ái và từ thiện.

Về việc truyền giáo, ngay trong triều đại của ngài (1831-1846), Đức Grêgôriô XVI đã nhắn nhủ các nhà truyền giáo:

“Mong rằng người ta quan tâm thật sự đến những nỗ lực của các nhà truyền giáo trong việc tìm hiểu hiểu đời sống xã hội của những dân tộc này. Khi rao giảng giáo thuyết của Tin mừng, các ngài đừng phủ nhận giá trị riêng những công trình lao động và nghệ thuật của các dân tộc này” (Collectanea của Thánh bộ Truyền bá Đức tin, Tập I, trang 541-545).

Những cuộc thám hiểm của Cook đã mở đường cho các nhà truyền giáo Tin Lành (1779). Người Công giáo đến Châu Đại Dương từ 1827: các cha dòng Thánh Tâm (Picpus) phụ trách các đảo phía Đông, các cha dòng Marist ở phía Tây. Có một số xung đột với anh em Tin Lành... Năm 1970, Châu Đại Dương có 3,9 triệu tín hữu trên 18 triệu dân, chiếm 21%. Riêng Giáo hội Úc, bắt đầu được rao giảng từ 1820, nhưng lại đón nhận các di dân da trắng, đông nhất là người Ái Nhĩ Lan, nên mới năm 1842, đã có 3 giám mục, 2 triệu tín hữu. Năm 1970, riêng Úc có 2,8 triệu tín hữu (23%).

Thế kỷ XIX, việc truyền giáo tại Châu Phi gần như phải khởi sự lại từ đầu. Pháp chiếm Algérie năm 1830. Các linh mục thuộc Hội thừa sai Paris đến Lesotho từ năm 1833. Nhiều dòng tu mới hướng về Châu Phi: nữ tu dòng Thánh Giuse (1818), Dòng Trái Tim Đức Maria (1841), Hội thừa sai Châu Phi từ Lyon của Đức cha Brésillac (1856)... Các vị thừa sai đã đi sâu vào nội địa...[24]

Năm 1868, Đức Hồng y người Pháp Lavigerie sáng lập Hội Thừa Sai Phi châu (thường gọi là các “Cha Trắng”) và năm 1869, lập Hội Các Sơ Thừa Sai Đức Bà Phi châu (các “Sơ Trắng”). Các cha Trắng đã đến vùng Đại Hổ năm 1878 lập các địa phận Uganda, Congo Nam và Bắc. Đức Hồng y Lavigerie chủ trương dùng người Phi cảm hóa người Phi, lập các làng Công giáo với các gia đình gồm các trẻ mồ côi được học đạo từ bé. Ngài chống lại việc Âu hóa người Phi.[25]

“Để thành công trong việc biến đổi bộ mặt của Châu Phi (...) điều kiện trước tiên là phải đào luyện người Phi được tuyển chọn, đào luyện trong môi trường sao cho họ vẫn là người Phi”.[26]

Năm 1970, số người Công giáo tại Châu Phi là 31,8 triệu trên 328 triệu dân, tức 9,8%. Giáo dân nhiều ở Trung Phi (27%) rồi đến Đông Phi (18,5%). Miền Bắc Phi nằm trong vùng Hồi giáo như Nigeria, Ethiopia, Ai Cập chỉ khoảng 1%. Ngược lại tại vài nước Nam Phi, nơi xảy ra nạn phân biệt chủng tộc thì lại có tỷ lệ rất cao, từ 40 đến 50% (như Burundi, Gabon, Angola, Congo).[27]

Ở Châu Mỹ, cuộc di dân của người Ái Nhĩ Lan đến Canada đã làm cho Giáo hội gốc Pháp ở đây phát triển nhanh chóng. Từ 1852, dân Canada truyền giáo cho vùng Bắc cực... Đầu thế kỷ XX, Canada có 2,2 triệu tín hữu. Đến 1970 con số tăng lên 8,6 trên 19,5 triệu dân, tức 46%. Canada có nhiều đại học Công giáo lớn như Québec (1852), Ottawa (1856), Montréal (1876) và Sherbrooke (1975).

Hoa Kỳ vốn là Hợp Chúng Quốc đã mở cửa đón những phái Baptistes, Methodistes và nhiều hệ phái Tin Lành khác. Thời Hoa Kỳ độc lập (1776) người Công giáo mới chỉ có 3%. Tòa Giám mục đầu tiên ở Baltimore được lập năm 1789. Đến 1850, Hoa Kỳ đã có 27 giáo phận. Năm 1970 số tín hữu Hoa Kỳ là 48/204 triệu dân, chiếm 23% với 10 hồng y, 275 giám mục. Các đại học Công giáo chính gồm có Georgetown (1791), Washington (1889), Niagara (1956) và Chicago (1957). Số người Công giáo da đen Hoa Kỳ có khoảng 800.000 (1970) với 185 linh mục và khoảng 1.300 tu sĩ nam nữ.

Ở Châu Á, Nhật cấm đạo đã hơn hai thế kỷ. Năm 1854, khi các thừa sai bắt đầu trở lại, các ngài thấy gần 20.000 tín hữu ở Nagasaki. Tổ tiên cha ông họ đã rửa tội, dạy kinh và chỉ cho họ ba dấu hiệu để nhận ra các thừa sai: độc thân, hiệp nhất với giáo hoàng Roma và sùng kính Trinh Mẫu Maria. Năm 1868, khoảng 8.000 tín hữu Nhật phải lưu đày. Nhưng năm 1873, do áp lực các cường quốc Tây phương, họ lại được tự do. Hiện nay Giáo hội Nhật Bản có 536 ngàn tín hữu, tương đương khoảng 0,42% dân số, nhưng ảnh hưởng của cộng đoàn Công giáo Nhật là rất lớn, đặc biệt là các tổ chức giáo dục của Giáo hội, như đại học danh tiếng Sophia ở Tokyo. Hầu hết các học sinh ở các trường Công giáo không phải là tín hữu, nhưng có cơ hội làm quen với văn hóa Kitô.[28]

Nước Triều Tiên có Giám mục Đại diện Tông Tòa từ 1831, nhưng lại chịu bách hại liên tục đến năm 1885, khi đó Triều Tiên mới có 11.000 tín hữu. Sau năm 1945 Triều Tiên chia đôi: số tín hữu Bắc Hàn vào năm 1970 là 60.000 (0,6%) còn Nam Hàn 167.000 (2,5%) với 1 hồng y và 14 giám mục. Tính đến năm 2022, số tín hữu Công giáo Hàn Quốc trong 16 giáo phận là 5.949.862 người, tăng 11,817 người, tương đương khoảng 0,2% so với năm trước đó. Tỉ lệ tín hữu Công giáo ở Hàn Quốc là khoảng 11,3% dân số.[29]

Tại bán đảo Ấn, trực thuộc Roma từ 1833-1838, Tòa Thánh khá cương quyết giải tán bốn địa phận chính tòa lệ thuộc người Bồ Đào Nha, để đặt các Đại diện Tông Tòa. Giáo hội Ấn liên tục phát triển. Sau khi giành độc lập 1947, bán đảo chia thành hai nước Ấn Độ và Pakistan. Thống kê 1970: Ấn Độ có 7.800.000 tín hữu, chiếm 1,5% dân số; Pakistan có 422.000 tín hữu, chiếm 0,3% dân số. Tích Lan có 829.000 tín hữu, chiếm 7% dân số.

Tại vùng Trung Đông thế kỷ XIX, Hồi giáo lớn mạnh, việc truyền giáo gặp nhiều khó khăn, số tín hữu còn ít. Các nước Ả Rập, Afghanistan, Yemen hầu như không có tín hữu Công giáo; Iran, Thổ Nhĩ Kỳ 0,1%; Pakistan 0,4%; đảo Chypre 1%, Israel, Kuwait 1,5%; nhiều hơn là ở Irak 3%; Jordani và Syria 4,3%; riêng Liban thuộc địa Pháp có 30% Công giáo. Đông Nam Á: đứng đầu là Phi Luật Tân có 26,8 / 32 triệu dân, chiếm 83% (1970). Indonesia 1.753.000, tỉ lệ 1,5%.

Trung Hoa thế kỷ XIX: trước 1860 xảy ra việc bách hại, trục xuất các thừa sai trong bối cảnh chiến tranh với các cường quốc. Sau 1860 Giáo hội được quyền giảng đạo dưới sự “bảo trợ” của Pháp.[30] Nhưng từ năm 1900 nhờ lòng ái quốc của tín hữu chống Nhật Bản, nhờ việc thay thế giáo sĩ bản xứ, đạo mới thực sự tự do tiến tới việc thành lập hàng giáo phẩm năm 1946 (Hồng y Tôma Tien). Năm 1949 Trung Hoa có 3,3 triệu tín hữu mà một phần ba dưới quyền giám mục Trung Hoa. Năm 2020, số người Công giáo tại Trung hoa chiếm tỷ lệ 0,46%[31] trên 1.439.323.776[32] (khoảng 7 triệu). Và Đài Loan trong tổng dân số 23,4 triệu người (năm 2016) thì có 4,5% là Kitô hữu. Trong đó có khoảng 270.000 người Công giáo. Tổng số tín hữu Công giáo tại Á châu năm 1970 là 43,8 triệu trên 1,9 tỉ dân, tức 2,4%.

Từ năm 1975 đến năm 1985 dân số thế giới tăng 22,2%: từ 3,942 tỉ lên 4,817 tỉ người. Số tín hữu tăng từ 710 đến 852 triệu, như vậy chỉ tăng 20%. Do đó tỉ lệ tín hữu Công giáo so với dân số thế giới từ 18% (1975) giảm còn 17,7 % (1985). Lý do vì lục địa đông dân nhất là Châu Á (60%) chỉ có 2,5% là Công giáo.[33]

Với tinh thần truyền giáo ở khắp mọi nơi, các thừa sai đi khắp các nơi, ngay cả nơi các tín hữu với bổn phận ngôn sứ: “Tông đồ giáo dân lên hàng đầu”, Giáo hội Công giáo hiện diện trên khắp các đất nước trên thế giới, dù còn gặp khó khăn ở một vài quốc gia. Dựa vào thống kê của Niên giám Thống kê của Giáo hội - Annuarium Statisticum Ecclesiae, với các số liệu tính đến ngày 31.12.2020:

Tổng cộng số tín hữu Công giáo: 1.359.612.000 trên tổng số dân 7.667.136.000. Tỉ lệ 17,73%. Phân bố theo các châu lục:

– Châu Phi có 256.840.000 tín hữu trên tổng số dân 1.328.423.000. Tỉ lệ 19,33%. Châu Phi là một châu lục đa sắc tộc, đa tôn giáo. Vào thời kỳ La Mã, Bắc và Trung Phi chịu ảnh hưởng của Kitô giáo, và suy tàn khi người Hồi giáo nổi lên. Sau Trung Cổ, các thừa sai đến loan báo Tin mừng. Ngày nay, Giáo hội Công giáo Rôma phát triển rộng, trừ khu vực Bắc Phi, nơi đa số là người Hồi giáo. Đa số các nước Châu Phi có Hội đồng Giám mục.

– Châu Mỹ có 653.668.000 tín hữu trên tổng số dân 1.022.967.000. Tỉ lệ 63,90%. Châu Mỹ La tinh, một vùng đất hầu như toàn tòng Công giáo, đã xuất hiện Đức Phanxicô vốn là Tổng giám mục Tổng giáo phận Buenos Aires, Argentina. Châu Mỹ La tinh đã từng là một khu vực trong đó người Công giáo chiếm đa số. Trong hầu hết các nước, cho đến thế hệ gần đây, người Công giáo vẫn có thể chiếm đến 90% dân số. 40% dân số Công giáo trên thế giới sinh sống trong khu vực này.[34]

Lục địa này nghèo khổ, nên xuất phát ra phong trào thần học giải phóng từ thập niên 1970, và đã bị ảnh hưởng bởi các cuộc truyền giáo của các giáo phái Tin Lành đến từ các nước giàu ở Bắc Mỹ, đến nỗi vùng đất này đã xảy ra một hiện tượng bỏ Công giáo theo Tin Lành.

Năm 2014, 19% dân số Mỹ La tinh là Tin Lành, mặc dù chỉ có 9% người dân được sinh ra trong các gia đình người Tin Lành. Cũng đã có một sự gia tăng mạnh số lượng người nói rằng họ không có niềm tin tôn giáo.[35] Giáo hội Công giáo ở Bắc Mỹ có Mexico và Hoa Kỳ có dân số Công giáo lớn thứ hai và tư trên thế giới, sau Brazil, và Philippines (thứ ba).

– Châu Á có 151.867.000 tín hữu trên tổng số dân 4.550.527.000. Tỉ lệ 3,34%. Theo thống kê trên, dân số Công giáo chỉ chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn tại Châu Á. Tuy nhiên, Giáo hội tại Châu Á vẫn không ngừng phát triển. Nếu vào năm 1988, dân số Công giáo tại đây là 84,3 triệu,[36] thì nay tổng số đã là hơn 151 triệu. Tại Châu Á, Giáo hội Công giáo có nhiều giáo phận rải khắp các nước do Hội đồng Giám mục quốc gia quản trị. Những Hội đồng Giám mục lớn nhất bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, tiếp theo là Philippines và Indonesia.

– Châu Âu có 286.307.000 tín hữu trên tổng số 723.056.000 dân. Tỉ lệ 39,60%. Công giáo ở châu Âu phát triển mạnh trên một diện tích khá rộng, bao phủ gần hết các quốc gia La tinh như Italia, Pháp, Tây Ban Nha. Giáo hội cũng phát triển ra nhiều quốc gia German và Slav khác như Ireland, Ba Lan. Giáo hội một số quốc gia khác như Anh, Đức, rải rác khu vực các nước Bắc Âu.

– Châu Đại Dương có 10.930.000 tín hữu trên tổng số dân 42.163.000. Tỉ lệ 25,92%.[37] Châu Đại Dương là một châu lục khá tách biệt so với phần còn lại so với thế giới, nên tín đồ Công giáo chủ yếu tập trung ở Australia và New Zealand. Một lượng nhỏ tín đồ rải khắp các khu vực còn lại của châu Đại Dương tới tận quần đảo Midway. Theo một thống kê khác, tổng cộng số tín hữu Kitô giáo (Công giáo, Tin Lành, Anh Giáo, Chính Thống Giáo): 2,550,714,000 trên 7,656,531,000. Tỉ lệ 33,3% dân số. Như vậy là 1/3 dân số là các tín hữu Kitô.

Về mặt tổ chức, Giáo hội Công giáo đứng đầu là vị giám mục Giáo phận Rôma, chức danh là giáo hoàng có quyền uy, ảnh hưởng lớn nhất trong Giáo hội Công giáo toàn cầu, phụ giúp ngài là các Thánh bộ và các Ủy ban Giáo hoàng.

Giáo hội Công giáo tại từng quốc gia, khu vực, hoặc các thành phố lớn gọi là giáo hội địa phương, được tổ chức thành giáo phận (tiếng Anh: diocese nếu thuộc Tây phương hoặc eparchy nếu thuộc Đông phương), mỗi giáo phận do một Giám mục lãnh đạo. Các Giám mục trong một quốc gia hoặc khu vực cụ thể thường được tổ chức thành Hội đồng Giám mục. Hội đồng Giám mục quy tụ các vị lãnh đạo Giáo hội trong một quốc gia hay một lãnh thổ để hợp nhất với nhau thi hành mục vụ theo thể cách và phương thức thích hợp với hoàn cảnh.

Các giáo hội Công giáo tại các xứ truyền giáo nằm dưới sự chăm sóc của Bộ Loan báo Tin mừng. Các giáo phận này luôn được hỗ trợ về tinh thần và vật chất từ Giáo hội hoàn vũ để tăng trưởng và phát triển (trong đó có giáo dục). Một giáo phận truyền giáo là một khu vực của một quốc gia, được chỉ định là lãnh thổ truyền giáo, nằm trong sự chăm sóc của một giám mục. Giáo hội Công giáo Việt Nam từ năm 1960 đã có Hội đồng Giám mục, nhưng vẫn còn thuộc Bộ Loan báo Tin mừng. Châu Á vẫn là khu vực truyền giáo quan trọng do tỉ lệ người Công giáo còn thấp, trong khi 2/3 tín hữu Á châu lại tập trung ở Phi Luật Tân. Ở các vùng đất truyền giáo, thực tế trải dài trong lịch sử cho thấy rằng, những người đầu tiên hoạt động về giáo dục là người Công giáo.

Về hoạt động truyền giáo, Giáo hội minh định:

“Tự bản tính, Giáo hội lữ hành phải truyền giáo...” (AG 2).

KẾT

Mẹ Giáo hội đem hạt giống Tin mừng cho các Giáo hội mới vừa được khai sinh để những Giáo hội này vun trồng cách đầy đủ, đâm rễ sâu trong lòng dân tộc và văn hóa, nhưng gắn bó với Giáo hội Mẹ như cành nho liền với thân nho.

Trên bình diện mạc khải, ngay từ đầu Giáo hội đã có tất cả, nhưng trên bình diện phát triển, Giáo hội theo bình diện nhân loại, hay đúng hơn, đảm nhận và biến đổi nhân loại, thì chẳng có thế hệ nào là kết thúc cả (...). Giáo hội sẽ không chỉ nói như ở thời thánh Augustinô rằng: “Ngôn ngữ của tôi là La tinh, là Hy Lạp, nhưng tiếng Cyriaque cũng là của tôi”. Giáo hội sẽ thêm vào đó tiếng Phạn, tiếng Tamoul, tiếng Hoa... cùng với tất cả những gì mà các ngôn ngữ này mang lại, về tư tưởng cũng như tình cảm, mà đến nay chưa hề du nhập vào thế giới Địa trung Hải, Nhật Nhĩ Man và Slave (...)

Các nền linh đạo vẫn không ngừng triển nở, các cách thức để chiêm niệm, những công thức mới của mầu nhiệm, các dạng tôn kính và đời tận hiến, vẫn còn chờ đợi, và chắc chắn sẽ chờ đợi nhiều thế kỷ, cuộc đăng quang của những nền văn hóa như văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa, giữa lòng một Giáo hội duy nhất và đa dạng. Kitô giáo hôm qua, hôm nay và cho đến muôn đời vẫn là (Nước Trời) “đang đến”. Thánh Linh vĩnh cửu sẽ luôn là Đấng hoàn tất công cuộc sáng tạo này.[38]

Trong Tin mừng có nói đến dụ ngôn hạt giống tự mọc lên trong lúc người gieo không hay biết (x. Mc 4,26-29) diễn tả tiến trình hội nhập văn hoá của Giáo hội Chúa Kitô. Sự tương quan giữa hạt giống (Tin mừng) và đất (nền văn hoá), vai trò của dân tộc, của nền văn hoá tiếp nhận và của Tin mừng. Hội nhập văn hoá là tiến trình Tin mừng thấm nhập vào văn hoá để làm cho nền văn hoá đó sinh hoa kết trái.

Cho nên, sau này trong Tông huấn Loan báo Tin mừng, Đức Phaolô VI xác định rõ:

“Việc chia tách giữa Tin mừng và văn hoá là một thảm trạng”. 

Lm. Vinh Sơn Nguyễn Cao Dũng, HVCGVN

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 149 (tháng 9 & 10 năm 2025)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây