TIN MỪNG CHÚA NHẬT - LỄ TRỌNG

Chúa Nhật III Mùa Chay -Năm A

“Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa.” (Ga 4,5-42)
Đọc các tin khác ➥
TÌM KIẾM

Hãy khát mong gặp gỡ Đức Ki-Tô

Thứ bảy - 07/03/2026 05:21 | Tác giả bài viết: Petrus.tran |   33
“Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ phải khát. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” (x.Ga 4, 13).

Chúa Nhật III – MC – A
Hãy khát mong gặp gỡ Đức Ki-Tô

SnTM 070326a


Như chúng ta được biết, năm ngoái (2025), nhân ngày Thế Giới Truyền Giáo trong Năm Thánh, với thông điệp trung tâm là Niềm Hy Vọng. Cố Giáo Hoàng PHANXICÔ đã chọn khẩu hiệu: “Những Nhà Truyền Giáo của Niềm Hy Vọng giữa Muôn Dân”.

“Khẩu hiệu này” ngài cố Giáo Hoàng nói: “(nhằm) nhắc nhở mỗi Kitô hữu và toàn thể Hội Thánh – cộng đoàn những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội – về ơn gọi nền tảng của chúng ta, là những người bước theo Chúa Kitô, trở thành sứ giả và người kiến tạo hy vọng.”

Trở-thành-sứ-giả-và-người-kiến-tạo-hy-vọng. Đó… đó là điều cấp thiết “trong một thế giới đang bị bao phủ bởi những bóng tối nặng nề”, như hôm nay.

Mỗi Kitô hữu “được mời gọi loan báo Tin Mừng bằng cách chia sẻ những hoàn cảnh sống cụ thể của những người mà họ gặp gỡ, qua đó trở thành những người mang và kiến tạo niềm hy vọng”, ngài cố Giáo Hoàng, thêm lời truyền dạy, như thế.

Vâng, phải là vậy… vì Đức Giê-su đã làm vậy. Trong ba năm thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su là người-kiến-tạo-hy-vọng, những người Ngài gặp gỡ, họ đều nhận được niềm hy vọng, niềm hy vọng nơi một “Thiên Chúa là tình yêu”, được tỏ lộ qua Đức Giê-su, một Giê-su “cúi xuống với những ai nghèo khổ, đau buồn, tuyệt vọng và bị áp bức, xức dầu an ủi lên vết thương của họ và đổ rượu hy vọng vào lòng họ.” (Kinh Tiền tụng “Chúa Giêsu – Người Samaritanô Nhân Hậu”).

Cha Giu-se Tiến Lộc, cảm nghiệm được điều này, ngài đã có những lời chia sẻ kiến-tạo-niềm-hy-vọng cho mọi người, những lời chia sẻ, như sau: “Gặp gỡ Đức Ki-Tô, biến đổi cuộc đời mình. Gặp gỡ Đức Ki-Tô đón nhận ơn tái sinh. Gặp gỡ Đức Ki-Tô chân thành mình gặp mình. Gặp gỡ Đức Ki-Tô nảy sinh tình đệ huynh.”

Ông Lê-vi, còn có tên gọi khác là Mát-thêu, như một điển hình. Sau khi gặp gỡ Đức Giê-su, ông đã biến-đổi-cuộc-đời-mình, biến đổi từ một người thu thuế thành người môn đệ của Đức Giê-su.

Rồi đến trường hợp ông Da-kêu. Là thủ lãnh những người thu thuế, một hạng người bị cho là kẻ tội lỗi, thật khó có hy vọng được gặp gỡ Đức Giêsu. Thế mà, ông lại được gặp Ngài. Hay nói đúng hơn, Đức Giê-su chủ động gặp ông, ngay ở-trong-nhà-ông.

Qua sự kiện gặp gỡ này, Đức Giêsu đã chinh phục được tâm hồn ông. Từ một hạng người bị mọi người xầm xì cho là “người tội lỗi”, ông đã được cảm hóa và được nhận lãnh ơn-tái-sinh.

Gặp-gỡ-Đức-Giê-su-chân-thành-mình-gặp-mình, đó là trường hợp của một người phụ nữ tại Samari. Câu chuyện này được ghi lại trong Tin Mừng thánh Gio-an. (x.Ga 4, 5-42).

**
Tin Mừng thánh Gio-an thuật lại rằng: Hôm ấy, Đức Giêsu “đến một thành xứ Samari, tên là Xy-kha, gần thửa đất ông Gia-cop đã cho con là ông Giu-se. Ở đấy, có giếng của ông Gia-cóp”.

Từ miền Giu-đê trở lại miền Ga-li-lê, rồi băng qua Samari để đến Xy-kha, “Người mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc đó vào khoảng mười hai giờ trưa.” (x.Ga 4, 5-6).

Là khoảng-mười-hai-giờ-trưa, một khoảng thời khắc rất nóng. Ấy thế mà, bất chấp nắng nóng, chuyện kể tiếp rằng: “Có một người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước”. Khi thấy người phụ nữ này, “Đức Giê-su nói với người ấy: Chị cho tôi xin chút nước uống.”

Với chúng ta hôm nay, đó là chuyện bình thường. Nhưng, với người Do Thái, đó là chuyện bất bình thường. “Người Do Thái không được giao tiếp với người Samari”. Nguyên nhân sâu xa là bởi, từ năm 727 TC, mười chi phái Do Thái phương Bắc bị Ðế quốc A-si-ri bắt làm phu tù. Vua A-si-ri đem những người Babylone đến định cư ở đó. Vì vậy, có một số người Do Thái ở Samari bị pha lẫn giòng máu người ngoại bang. Chính vì thế, người Do Thái chính gốc tẩy chay người Samari.

Thế nên, người phụ nữ rất ngạc nhiên và nói: “Ông là người Do Thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông uống nước sao?”

Nghe thế, Đức Giê-su vẫn không có một cử chỉ gì gọi là kỳ thị. Trái lại, Ngài lại có những lời nói rất chân tình, nói rằng: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị ‘Cho tôi chút nước uống’ thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống.” (x.Ga 4, 10).

Điều gì là ân-huệ-Thiên-Chúa-ban! Nước gì lại gọi là nước-hằng-sống! Chắc hẳn người phụ nữ này không hiểu. Và, chính vì không hiểu nên chị Samari đã nói với Đức Giê-su: “Thưa ông, ông không có gầu, mà giếng lại sâu. Vậy ông lấy đâu ra nước hằng sống? Chẳng lẽ ông lớn hơn tổ phụ chúng tôi là Gia-cóp, người đã cho chúng tôi giếng này? Chính Người đã uống nước giếng này, cả con cháu và đàn gia súc của Người cũng vậy.”

Trả lời người phụ nữ Samari, Đức Giê-su nói: “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ phải khát. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” (x.Ga 4, 13).

Khi nghe Đức Giê-su nói thế, người phụ nữ Samari liền nói với Ngài, rằng: “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước.”

Phải chăng, chị Samari này nghĩ rằng “nước tôi cho” chính là loại nước chị ta dùng hằng ngày?

Cứ cho là chị ta nghĩ như thế! Vâng, thật đáng cảm phục về lòng tin của chị ta. Chỉ mới diện kiến lần đầu. Chưa biết Đức Giêsu là ai, thế mà chị ta vẫn cứ tin vào lời nói của Ngài.

Nghĩ về hành động của chị Samari, thật phải đạo khi chúng ta tự hỏi: còn tôi, đức tin của tôi có đủ để tin vào những lời Đức Giê-su đã phán dạy rằng: “Ai khát, hãy đến với tôi, hãy đến mà uống! Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống”? (x.Ga 7, 37).

Đấy… đấy là ân sủng, và thánh Phao-lô khẳng định rằng: “…Đức Giêsu đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, như chúng ta đang được hiện nay” (x.Rm 5,2).

***
Rất, có rất nhiều điều Đức Giê-su đã nói với người phụ nữ này. Và nó như là tiếng chuông cảnh tỉnh chị ta.

Làm sao không cảnh tỉnh cho được! Chỉ là một kẻ xa lạ, và mới chỉ là cuộc gặp gỡ lần đầu, thế mà Đức Giêsu đã biết rất rõ cuộc đời không mấy sáng sủa của chị ta. Chị ta không thể tin nổi khi Đức Giê-su biết rõ ràng rằng: “chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị” (Ga 4, 18).

Tiếng chuông cảnh tỉnh này, khiến chị ta chỉ còn biết thốt lên rằng: “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ”.

Tiếng chuông cảnh tỉnh tiếp theo, không chỉ cho chị ta, mà còn cho cả chúng ta, hôm nay. Đó là, phải thờ phượng Thiên Chúa ở đâu? Trên núi Garizim hay Giêrusalem! Chị Samari đã thắc mắc, như thế.

Hôm ấy, Đức Giê-su nói: “Nhưng giờ đã đến -và chính là lúc này đây- giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật.” (x.Ga 4, 23-24).

Có một sự ngạc nhiên nơi các môn đệ, khi họ thấy “Người nói chuyện với một phụ nữ”.

Phần người phụ nữ Samari, bà ta “để vò nước lại, vào thành và nói với người ta: Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm”. Không dừng ở đó, người phụ nữ Samari còn nói tiếp rằng: “Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao?” (x. Ga 4, 28).

Có thể nói rằng, cuộc gặp gỡ giữa người phụ nữ Samari và Đức Giê-su là một cuộc gặp gỡ không chỉ làm cho bà ta thấy rõ “mình gặp mình”, mà còn “nảy sinh tình đệ huynh.”

Hôm ấy, những người đệ-huynh trong thành, sau khi nghe những lời tường trình của bà, “Họ ra khỏi thành và đến gặp (gỡ) Người.

Khi đến gặp Người, chuyện kể tiếp rằng: “Có nhiều người… đã tin vào Đức Giê-su.” Dân Samari xin Người ở lại với họ, và “Người đã ở lại đó hai ngày.”

Ở-lại-đó-hai-ngày, thế mà, dân Samari đã nhận ra, Đức Giê-su… “Người thật là Đấng cứu độ trần gian”.

Còn chúng ta, Đức Giê-su đã ở lại với chúng ta, mười năm, năm mươi năm… chúng ta có nhận ra: Ngài là Cứu Chúa đời ta!

****
Thật ra, Đức Giêsu đã ở lại với chúng ta “mọi ngày cho đến tận thế”. Ngài vẫn tiếp tục mời gọi mỗi chúng ta “uống nước tôi cho”.

Chúng ta sẽ theo gương chị Samari và nói: “Xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát”! Câu trả lời là của mỗi chúng ta.

Thế nhưng, đừng quên, những loại nước mà thế gian ưa chuộng và cho rằng, uống nó mới là dân-sành-điệu… đại loại như: Hennessy, Martell, Chivas… hoặc như: Heneken, Tiger, v.v… coi chừng!

Đó là những loại nước uống vào, chết chắc! Uống vào, thoạt tiên thấy mình ”quay cuồng theo tiếng nhạc vui”, nhưng rồi “sau những cơn vui thấy lòng mình (sao) vẫn bơ vơ.”

Nguy hiểm hơn, khi con ma men xuất hiện, chúng ta sẽ không còn chế ngự hoặc kiểm soát được bản thân mình.

Không kiểm soát được bản thân mình, nguy hiểm lắm! Con ma… ma dâm bôn, ma nóng giận sẽ kiểm soát bản thân mình.

Quay cuồng với con ma nóng giận, bất hòa trong gia đình sẽ xảy ra. Xảy ra nhiều lần, sẽ có người cất tiếng ca: “Thôi là hết em đi đường em. Tình duyên mình chỉ bấy nhiêu thôi. Còn mong gì hình bóng xa xôi. Nhắc làm gì chuyện năm xưa. Cho tim thêm ngẩn ngơ.”

Quay cuồng với con-ma-dâm-bôn, tệ lắm! Thánh Phao-lô khuyến cáo: “những kẻ làm điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa” (Gl 5, 19-21).

Thế nên, để được thừa hưởng Nước Thiên Chúa, bằng mọi giá, chúng ta phải “Gặp gỡ Đức Ki-Tô”. Gặp gỡ Đức Ki-Tô và nói: “Xin Ngài cho con thứ nước ấy.”

Nước- Đức-Giêsu-cho, đó chính là “nguồn suối Thánh Kinh”. Với nguồn nước này, chúng ta sẽ được thỏa lòng khao khát, chúng ta sẽ nhận được mạch nước của Thần Khí: mạch nước bác ái, mạch nước nhẫn nhục, mạch nước nhân hậu, mạch nước từ tâm, mạch nước trung tín, mạch nước hiền hòa, mạch nước tiết độ.

Chính những mạch nước này sẽ thỏa lấp những cơn khát của chúng ta, những cơn khát tình yêu thương: tình yêu thương gia đình, tình yêu thương vợ chồng, tình yêu thương tha nhân.

Khi đã thỏa lòng những cơn khát nêu trên, đó chính là lúc chúng ta “trở thành một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời”, cho chính chúng ta.

Thánh Vịnh (42, 1) có chép rằng: “Như nai rừng khát mong nguồn suối, hồn con cũng khát mong Chúa”. Là một Ki-tô hữu, nói theo cách nói, hôm nay: “Như nai rừng khát mong nguồn suối, con cũng khát mong gặp gỡ Đức Ki-tô”.

Vâng, đừng khát mong gì cả, đừng khát quyền lực, đừng khát danh vọng, đừng khát tiền bạc, v.v… vì tất cả chỉ là phù vân. Hãy nghe Cohelet nói: “Phù vân, quả là phù vân... tất cả chỉ là phù vân. Thú vui trần gian ư?! Nhà cửa, bạc vàng và vật quý ư?! Đào kép, mỹ nữ cung phi ư?! Tôi đã trổi vượt và giàu có hơn mọi người... Tôi nhận thấy: tất cả chỉ là phù vân” (x.Gv 2,11).

Có khát mong! Hãy khát mong gặp gỡ Đức Ki-Tô.

Petrus.tran

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây