TIN MỪNG CHÚA NHẬT - LỄ TRỌNG

Chúa Nhật Chúa Giêsu chịu phép rửa

“Này là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta” (Mt 3, 13-17)
Đọc các tin khác ➥
TÌM KIẾM

Ủy Ban Giáo Dân: Thường Huấn tháng 1/2026

Chủ nhật - 04/01/2026 16:37 | Tác giả bài viết: Ủy ban Giáo dân |   97
Các bài thường huấn dành cho giáo dân trong tháng 01/2026 do Ban Nghiên huấn của Ủy ban Giáo dân thực hiện.
Ủy Ban Giáo Dân: Thường Huấn tháng 1/2026

ỦY BAN GIÁO DÂN - THƯỜNG HUẤN THÁNG 01/2026: ÁNH SÁNG TỪ NGUỒN CỘI PHÉP RỬA


WHĐ (04/01/2026) – Sau đây là các bài thường huấn dành cho giáo dân trong tháng 01/2026 do Ban Nghiên huấn của Ủy ban Giáo dân thực hiện.

Ban Nghiên huấn
Ủy ban Giáo dân
Hội đồng Giám mục Việt Nam

 

CÁC BÀI THƯỜNG HUẤN DÀNH CHO GIÁO DÂN

THÁNG 01/2026

Ánh sáng từ nguồn cội Phép Rửa: Trở về căn tính “thuộc về Đức Kitô” và phẩm giá ơn gọi Kitô hữu

BÀI I - CÁC BÍ TÍCH KHAI TÂM LÀM NÊN CĂN TÍNH NGƯỜI MÔN ĐỆ THỪA SAI

BÀI II - CANH TÂN HÀNH TRÌNH KHAI TÂM ĐỂ HỘI NHẬP TẦM NHÌN MÔN ĐỆ THỪA SAI VÀO KẾ HOẠCH MỤC VỤ GIÁO XỨ

BÀI III - SỐNG KÝ ỨC PHÉP RỬA: TRỞ VỀ VỚI ÂN SỦNG LÀM CON CÁI THIÊN CHÚA

BÀI IV - SỐNG SỰ TỰ DO VÀ TRƯỞNG THÀNH CỦA NGƯỜI ĐÃ LÃNH NHẬN PHÉP RỬA

 

BÀI I - CÁC BÍ TÍCH KHAI TÂM LÀM NÊN CĂN TÍNH NGƯỜI MÔN ĐỆ THỪA SAI

Lm. Giuse Maria Lê Quốc Thăng

Trong Thư chung 2025, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã định hướng mục vụ cho Giáo hội Việt Nam năm 2026 theo chủ đề: Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai với ý lực sống từ câu Tin mừng “Anh em là ánh sáng thế gian” (Mt 5,14). Tất cả những ai đã chịu Phép Rửa đều được mời gọi tích cực tham gia vào sứ mạng loan báo Tin mừng (x. Niềm Vui Tin mừng, số 120). Theo các Đức Giám mục hướng dẫn thì: Ánh sáng đức tin được chiếu tỏa ra bên ngoài qua những việc tốt lành chúng ta làm trong đời sống cá nhân, gia đình, cũng như trong mọi môi trường xã hội. Bằng cách đó, chúng ta trở nên như nắm men góp phần vào việc thánh hóa thế giới từ bên trong, và giới thiệu Đức Kitô cho người khác (x. Giáo hội, số 31). Đây cũng là trách nhiệm đặc thù của các Kitô hữu giáo dân là những người “hiện diện và làm việc trong những nơi chốn và môi trường mà chỉ nhờ họ, Hội thánh mới có thể trở thành muối đất” (Ibid., số 33).(HĐGMVN, Thư chung 2025, số 3) Đồng thời, các ngài cũng đề nghị: Hãy học hỏi về Bí tích Rửa tội, Thêm sức và Tông huấn “Loan báo Tin mừng” của Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, để xác tín rằng sứ mạng loan báo Tin mừng gắn liền với chúng ta, những người đã chịu Phép Rửa và được ghi ấn tín của Chúa Thánh Thần. (Hội đồng Giám mục Việt NamThư chung 2025, số 5)

1. Khởi đi từ ơn gọi của các bí tích khai tâm

Bản sắc của tín hữu giáo dân được phát sinh và nuôi dưỡng bởi Bí tích Thánh tẩy, Thêm sức và Thánh Thể. Bí tích Thánh tẩy làm cho con người được đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, Con Thiên Chúa, trưởng tử của mọi loài thụ tạo, được sai đến với tất cả như là vị Thầy và là Đấng Cứu Thế. Hành trình hiệp hành của Giáo hội đã dẫn chúng ta đến việc tái khám phá gốc rễ của sự đa dạng về các đặc sủng, các ơn gọi và các thừa tác vụ: “Tất cả chúng ta đều đã nhận Phép Rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” (1 Cr 12,13). Bí tích Rửa tội là nền tảng của đời sống Kitô hữu, bởi vì chính nhờ bí tích này, mọi người được dẫn vào hồng ân cao cả nhất, đó là trở thành con cái Thiên Chúa, tức là được tham dự vào mối tương quan của Chúa Giêsu với Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần. Không có gì cao trọng hơn phẩm giá phát xuất từ Bí tích Rửa tội vốn được trao ban cách bình đẳng cho mọi người, qua đó chúng ta được mời gọi mặc lấy Đức Kitô và được tháp nhập vào Người như những cành nho gắn liền với cây nho duy nhất. Danh xưng “Kitô hữu”, mà chúng ta vinh dự được mang, hàm chứa ân sủng làm nền tảng cho đời sống chúng ta và giúp chúng ta bước đi cùng nhau như anh chị em. Bí tích Thêm sức làm cho mỗi cá nhân nên giống khuôn mẫu của Đức Kitô, Đấng được sai đến để ban sự sống mới cho công cuộc sáng tạo và cho từng hữu thể qua việc tuôn trào Thần Khí của Người. Bí tích Thánh Thể làm cho người tín hữu được tham dự vào hy tế duy nhất và hoàn hảo mà Đức Kitô dâng hiến cho Chúa Cha, bằng chính xác thân Người để cứu độ thế giới.

Người tín hữu Công giáo là những môn đệ của Đức Kitô bắt đầu với các bí tích, có nghĩa là qua những gì Thiên Chúa đã tác tạo nơi họ, ghi dấu nơi họ bằng chính hình ảnh của Đức Giêsu Kitô, Con của Ngài. Chính từ quà tặng ân huệ thần linh này, chứ không phải từ sự nhượng quyền của con người, mà phát sinh ra ân huệ và trọng trách trên ba mặt, tiêu biểu cho người tín hữu giáo dân, là tiên tri, tư tế và vương giả, phù hợp với bản tính trần thế của họ.

2. Ngang qua sự dấn thân loan báo Tin mừng, một sứ mạng phải chu toàn

Bổn phận chính đáng của tín hữu giáo dân là công bố Tin mừng bằng lời chứng gương mẫu của đời sống được ăn rễ sâu trong Đức Kitô và được sống động qua những thực tại trần thế như gia đình; sự dấn thân vào chuyên môn trong thế giới lao động, văn hoá, khoa học và nghiên cứu; việc thực hành các trách nhiệm xã hội, kinh tế và chính trị. Tất cả những thực tại con người trần thế, cả cá nhân lẫn xã hội, bao gồm những môi trường và hoàn cảnh lịch sử khác nhau, cũng như các cấu trúc và các định chế là bối cảnh mà trong đó người tín hữu giáo dân sống và làm việc. Những thực tại này là những nơi mà người ta đón nhận được tình yêu Thiên Chúa. Sự dấn thân của họ phải phù hợp với tầm nhìn này và được nhìn nhận như một cách diễn tả lòng bác ái theo Tin mừng. “Đối với tín hữu giáo dân, sự hiện diện và hoạt động của họ trong thế giới không chỉ là một thực tại mang tính nhân học và xã hội học, (nghĩa là với tư cách của một con người trong một cộng đồng xã hội) nhưng theo một cách thức đặc biệt, đó còn là một thực tại mang tính thần học và Giáo hội học nữa (nghĩa là hiện diện với tư cách người môn đệ thừa sai của Đức Kitô thuộc về Giáo hội của Đức Kitô).

Việc làm chứng của tín hữu giáo dân được phát sinh từ ân huệ Chúa ban, được công nhận, nuôi dưỡng và dẫn tới sự trưởng thành. Động lực này làm cho sự dấn thân của họ trên thế giới có ý nghĩa và khác với những đặc tính hoạt động đặc thù của chủ nghĩa nhân bản, những đặc tính ấy không có một nền tảng tối hậu và bị đóng khung trong những giới hạn hoàn toàn thế tục. Lấy viễn cảnh cánh chung là then chốt mới có thể đem đến một sự hiểu biết đúng đắn về những thực tại con người. Từ điểm tựa là những ích lợi xác định này, tín hữu giáo dân có thể dấn thân vào hoạt động trần thế theo những tiêu chuẩn đích thực. Những mức sinh hoạt cao và năng suất kinh tế lớn hơn không phải là các chỉ báo có giá trị duy nhất để đo lường thành tựu đầy đủ của con người trong cuộc sống này, và thậm chí chúng còn kém giá trị đối với cuộc sống mai hậu, “bởi vì tầm nhìn của con người không chỉ giới hạn trong trật tự trần thế; tuy sống trong tầm mức của lịch sử nhân loại, con người vẫn bảo tồn toàn vẹn vận mệnh vĩnh cửu của mình”

3. Đi tới sự dấn thân phục vụ để thực sự là ánh sáng thế gian

Sự hiện diện của giáo dân trong đời sống xã hội được tiêu biểu bởi việc phục vụ, đó là dấu hiệu và sự biểu lộ của tình yêu, được thể hiện trong lĩnh vực gia đình, văn hoá, lao động, kinh tế và chính trị theo những khía cạnh đặc trưng. Tuân theo những đòi hỏi khác trong lĩnh vực lao động đặc biệt của mình, giáo dân nam nữ diễn tả sự thật của đức tin và đồng thời cũng diễn tả sự thật ấy được sống một cách cụ thể với mục đích để giải quyết các vấn đề xã hội. Tiến vào thiên niên kỷ thứ ba của kỷ nguyên Kitô giáo, qua đời sống chứng nhân, người giáo dân sẽ cởi mở chính mình cho tất cả những ai mà cùng với họ đón nhận gánh nặng trách nhiệm về lời mời gọi khẩn thiết nhất của thời đại chúng ta. “Rút ra từ những kho tàng giáo huấn của Giáo hội, những đề nghị của công đồng này nhắm tới tất cả mọi người, dù họ tin vào Thiên Chúa hoặc không nhìn nhận Ngài cách công khai; những đề nghị ấy có ý giúp họ nhận thức sâu sắc hơn về vận mệnh của mình, giúp cho lao động phù hợp hơn với phẩm giá cao quý của con người, giúp phấn đấu để có một cảm thức sâu đậm hơn về tình huynh đệ phổ quát và giúp đáp ứng những yêu cầu khẩn thiết của thời đại chúng ta với một nỗ lực quảng đại và phổ biến của tình yêu”.

Trên con đường hiệp hành của Giáo hội trong thời đại mới này thì mỗi người đã được rửa tội đều phải đáp lại đòi hỏi của sứ vụ trong bối cảnh nơi mình đang sống và hoạt động, tùy theo khuynh hướng và khả năng riêng của mình, qua đó thể hiện sự tự do của Chúa Thánh Thần trong việc trao ban các hồng ân. Chính nhờ vào sự năng động này của Chúa Thánh Thần mà Dân Thiên Chúa, khi lắng nghe thực tế nơi mình sinh sống, có thể khám phá ra những lĩnh vực mới để dấn thân và những cách thức mới để thực thi sứ vụ của mình. Các Kitô hữu, dù với vai trò nào trong đời sống gia đình hay trong các bậc sống khác, tại nơi làm việc hay trong nghề nghiệp của mình, trong dấn thân dân sự hoặc chính trị, trong hoạt động xã hội hay sinh thái, trong việc xây dựng một nền văn hóa được truyền cảm hứng từ Tin mừng cũng như trong việc loan báo Tin mừng trong môi trường kỹ thuật số - đều đang bước đi trên những nẻo đường của thế giới và loan báo Tin mừng trong đời sống của họ. (Văn kiện chung kết Thượng Hội đồng Giám mục thường lệ lần thứ 16, Số 58)

Trong cộng đoàn Kitô hữu, tất cả những người đã lãnh Bí tích Rửa tội đều có nhiều ân huệ để chia sẻ, mỗi người tùy theo ơn gọi và điều kiện sống riêng của mình. Lời mời gọi nên thánh và thi hành sứ vụ trong sự đa dạng của các đặc sủng, bắt nguồn từ sự tự do của Chúa Thánh Thần, nhằm phục vụ cho sứ vụ ở những nơi chốn và các nền văn hóa khác nhau (x. LG 12). Những hồng ân này không phải là tài sản độc quyền của những người đón nhận và sử dụng chúng, cũng không thể là lý do để đòi hỏi đặc quyền cho mình hay cho nhóm mình. Nhờ việc mục vụ phù hợp cho các ơn gọi, những hồng ân này đóng góp không chỉ cho đời sống của cộng đoàn Kitô hữu mà còn cho sự phát triển của xã hội trong mọi chiều kích của nó. Khi ấy mỗi người Kitô hữu đích thực là một môn đệ thừa sai, là ánh sáng thế gian.

Hồi tâm

- Anh chị em hiểu gì về các bí tích khai tâm làm cho mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai?

- Anh chị em có ý thức và hiểu biết về tư cách người môn đệ thừa sai là phải loan báo Tin mừng ngay nơi môi trường sống và làm việc của mình không?

- Anh chị em đã và đang dấn thân phục vụ như thế nào và trong lãnh vực nào với tư cách của người môn đệ thừa sai?

 

BÀI II - CANH TÂN HÀNH TRÌNH KHAI TÂM ĐỂ HỘI NHẬP TẦM NHÌN MÔN ĐỆ THỪA SAI VÀO KẾ HOẠCH MỤC VỤ GIÁO XỨ

Lm. Antôn Hà Văn Minh

Thư chung Hội Đồng Giám Mục Việt Nam 2025 đã nhắc lại bổn phận của Giáo hội Việt Nam là chúng ta đã học hỏi và khai triển chủ đề của Thượng hội đồng Giám mục: “Hướng tới một Hội thánh hiệp hành: hiệp thông, tham gia, sứ vụ”. Chủ đề này không chỉ để tìm hiểu trên bình diện tri thức nhưng cần phải được đưa vào đời sống của Dân Chúa. Và để cụ thể hóa, Hội đồng Giám Mục đã đưa ra chỉ dẫn cho đường hướng mục vụ năm 2025 -2026 với chủ đề: Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai: “Anh em là ánh sáng thế gian” (Mt 5,14).

Các vị chủ chăn trong Giáo hội Việt Nam nhấn mạnh chiều kích hiện sinh của mỗi người Kitô hữu trong năm 2025-2026 phải là: “Ánh sáng thế gian” (Mt 5,14). “Ánh sáng không hiện hữu cho chính nó nhưng để soi sáng cho mọi người. Cũng vậy, khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, chúng ta được sinh ra trong đời sống mới. Sự sống thần linh ấy không phải là đặc quyền chúng ta giữ cho riêng mình, nhưng là một kho báu cần trao tặng, thông truyền và loan báo, đó chính là ý nghĩa của việc loan báo Tin mừng. Vì vậy, sẽ thật sai lầm nếu nghĩ rằng công cuộc loan báo Tin mừng là trách nhiệm của một số người chuyên trách, còn các tín hữu khác chỉ là những người thụ hưởng. Không phải thế, tất cả những ai đã chịu Phép Rửa đều được mời gọi tích cực tham gia vào sứ mạng loan báo Tin mừng”[1].

1. Người môn đệ thừa sai

Trong Tông huấn Niềm vui Tin mừng, Đức cố Giáo hoàng Phanxicô đã đưa ra con đường mục vụ “đi ra”, và được ngài gọi Giáo hội phải là một “Hội thánh đi ra”. Ngài nói: Vào thời chúng ta, lệnh truyền của Chúa Giêsu: “Anh em hãy đi thu thập môn đệ” đang vang dội trong những khung cảnh đổi thay và đầy thách thức mới cho sứ mạng loan báo Tin mừng của Hội thánh, và tất cả chúng ta được kêu gọi tham gia vào cuộc “đi ra” truyền giáo mới này. Mỗi Kitô hữu và mỗi cộng đoàn phải nhận ra con đường mà Chúa chỉ cho, nhưng tất cả chúng ta phải vâng theo tiếng gọi của Ngài là ra khỏi vùng đất tiện nghi của mình để đến với mọi vùng “ngoại vi” đang cần ánh sáng Tin mừng”[2].

Hội thánh “đi ra” theo Đức Thánh Cha “là một cộng đoàn các môn đệ truyền giáo đi bước trước, dấn thân và nâng đỡ, sinh hoa trái và vui mừng… Một cộng đoàn loan báo Tin mừng dấn mình vào đời sống hằng ngày của dân chúng bằng lời nói và hành động; công đoàn ấy vượt qua các khoảng cách, sẵn sàng hạ mình khi cần, và ôm ấp đời sống con người, chạm vào thân thể đau khổ của Đức Kitô nơi người khác”[3]

Người môn đề thừa sai không nhận bất cứ một sự bổ nhiệm nào của các vị hữu trách trong Giáo hội, nhưng đây là nhiệm vụ thuộc về bản chất của người Kitô hữu. Thật vậy qua Bí tích Rửa tội và thêm sức mỗi Kitô được gọi dấn thân phục vụ cho sứ vụ của Chúa Kitô qua việc tìm kiếm những phương cách để trung thành với Người. Thượng Hội đồng Giám mục thế giới lần thứ XVI đã minh định: “Căn tính của Dân Thiên Chúa bắt nguồn từ Bí tích Rửa tội nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Căn tính này cần phải được sống như một lời mời gọi nên thánh và như một việc sai đi trong sứ vụ kêu gọi mọi dân tộc đón nhận hồng ân cứu độ”[4], vì thế “tất cả Dân Thiên Chúa đều là chủ thể của việc loan báo Tin mừng. Trong đó, mọi người đã nhận Phép Rửa đều được mời gọi trở thành tác nhân chủ yếu của sứ vụ, vì tất cả chúng ta đều là những môn đệ truyền giáo”[5] .

Do đó ơn gọi của người Kitô hữu chính là trở thành người môn đệ thừa sai, được sai “đi ra” để chiếu tỏa ánh sáng Tin mừng đến môi trường mình sinh sống, và nói như Đức Phanxicô: “Tất cả các chân lý mặc khải đều bắt nguồn từ Thiên Chúa và phải tin tất cả với cùng một lòng tin, nhưng có một số quan trọng hơn số khác vì trực tiếp diễn tả tâm điểm của Tin mừng. Trong cái cốt lõi cơ bản này, cái tỏa sáng chính là vẻ đẹp của tình thương cứu độ của Thiên Chúa được mặc khải nơi Đức Kitô đã chết và sống lại từ cõi chết”[6]. Như vậy, điểm cốt lõi hành động của người môn đệ thừa sai chính là làm cho mọi người nhận biết lòng thương xót của Thiên Chúa qua đời sống chứng tá bằng một tình yêu trao ban, phục vụ vô vị lợi. Hay nói cách khác, người môn đê thừa sai đi ra với một tâm thức đã được hoán cải loại bỏ tính ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa, và đã “khám phá ra rằng chính mình mới là người đang được tìm kiếm. Họ được gọi đích danh, được tha thứ và đến lượt mình, họ cũng được sai đi cùng với các anh chị em mình”[7], từ đó người Kitô hữu kiến tạo nơi mình một con đường dẫn tới gặp tha nhân, đặc biệt những người đang đối diện với nhiều khó khăn về tâm lý cũng như thể lý, khó khăn về tinh thần cũng như vật chất để dấn thân phục vụ, như nhạc sĩ Hồng Bính trong bài hát “Chính Chúa Chọn con” đã diễn ta trọn vẹn sư vụ của người môn đệ thừa sai: “Xin gởi con ra khắp nẻo đường, bàn tay nâng ánh đèn rọi đường, tỏa lửa ấm cho người lạnh giá. Xin gởi con ra khắp nẻo đường, cảm thông chia vui buồn phận người, và sớt chia cho đời niềm vui. Xin gởi con vào khắp thôn làng, ủi an trao cho người khổ sầu, gợi lòng tin cho người buồn chán. Xin gởi con vào khắp buôn làng, niềm vui trao những người buồn phiền, người lắng lo xin gởi bình an”. Đó cũng là con đường mà Đức Phanxicô đã chỉ ra khi nói đến sự đi ra của người môn đệ thừa sai: “Chúng ta có thể dấn bước, mạnh dạn có sáng kiến, đến với người khác, tìm kiếm những người sa ngã, đứng ở các ngả đường để đón mời những người bị gạt ra bên lề. Một cộng đoàn như thế có một ước muốn khôn nguôi là tỏ lòng thương xót, kết quả của kinh nghiệm bản thân của cộng đoàn về sức mạnh lòng thương vô biên của Thiên Chúa”[8].

Nhưng để có thể trở thành người môn đệ thừa sai trước tiên người Kitô hữu phải canh tân đời sống đức tin qua việc củng cố đời sống cầu nguyện được xây dựng qua các hình thức phụng vụ và lòng đạo đức bình dân. Tuy nhiên, ánh sáng người môn đệ thừa sai chiếu tỏa phải là ánh sáng được kín múc từ Lời Chúa và Thánh Thể, vì thế để là người môn đệ thừa sai cần phải kiến tạo đời sống được lớn lên trong việc lắng nghe Lời Chúa và siêng năng hiệp thông Thánh Thể. Kế đến người môn đệ thừa sai phải là yếu tố sống động trong việc kiến tạo sự bình an trong đời sống gia đình, trong môi trường xã hội bằng chứng tá từ một con người được thấm nhuần tinh thần Phúc âm. Người môn đệ thừa sai phải là người cha người mẹ mẫu mực trong đời sống đức tin, biết giáo dục và hướng dẫn con cái sống theo tinh thần của Tin mừng, phải kiến tạo gia đình thành một Giáo hội tại gia, nơi đó sự tôn thờ Thiên Chúa và Tình yêu của Ngài luôn được tỏ hiện.

2. Người môn đệ thừa sai “đi ra” từ cộng đồng giáo xứ

Đâu là nguồn ánh sáng mà người môn đệ thừa sai kín múc để có thể chiếu tỏa đến cho nhiều người, nếu không phải từ Giáo hội, cụ thể cộng đoàn Giáo xứ, nơi người môn đệ thừa sai được qui tụ vào, được nuôi dưỡng bằng của ăn thần lương là Thánh Thể và Lời Chúa, là nơi mà người môn đề thừa sai được đào tạo để sống hiệp thông và tham dự vào đời sống của Giáo hội, một đời sống luôn hướng về truyền giáo. Đức Phanxicô đã nhấn mạnh: “Giáo xứ là sự hiện diện của Hội thánh tại một địa phương nhất định, một môi trường để nghe Lời Chúa, để tăng trưởng trong đời sống Kitô hữu, để đối thoại, rao giảng, làm việc bác ái, thờ phượng và mừng lễ. Trong mọi hoạt động của mình, giáo xứ cổ vũ và huấn luyện các thành viên của mình để trở thành những người loan báo Tin mừng. Giáo xứ là một cộng đoàn của các cộng đoàn, một thánh điện để những người khát nước đến uống dọc đường, và một trung tâm thường xuyên vươn ra truyền giáo”.[9]

Có thể nói, người Kitô hữu không thể trở thành người môn đệ thừa sai đích thật nếu không thuộc về một cộng đoàn Giáo xứ. Công đồng Vatican II nhắn nhủ: Tất cả các Kitô hữu, dù sống ở đâu, đều phải dùng chứng tá và gương mẫu đời sống là làm chứng cho Tinh mừng, và “Để có thể làm chứng về Chúa Kitô cách hữu hiệu, chính các Kitô hữu phải liên kết với mọi người chung quanh với thái độ tôn trọng và yêu thương, phải biết mình là thành phần của cộng đồng mình chung sống, và tham gia đời sống văn hóa, xã hội qua những giao tiếp và hoạt động khác nhau trong cuộc sống nhân loại; phải hiểu rõ các truyền thống dân tộc và tôn giáo cũng như phải vui mừng và chú tâm khám phá ra những hạt giống Lời Chúa đang tiềm ẩn trong đó” (Ad gentes, số 11).

Là môi trường huấn luyện người môn đệ thưa sai, cộng đoàn Giáo xứ phải là “một cộng đoàn loan báo Tin mừng dấn mình vào đời sống hằng ngày của dân chúng bằng lời nói và hành động; công đoàn ấy vượt qua các khoảng cách, sẵn sàng hạ mình khi cần, và ôm ấp đời sống con người, chạm vào thân thể đau khổ của Đức Kitô nơi người khác”[10]. Để được như vậy, cộng đoàn giáo xứ phải xây dựng một kế hoạch mục vụ mang chiều kích hiện sinh để giáo xứ trở thành một môi trường đào tạo người môn đệ thừa sai:

- Canh tân tinh thần cầu nguyện: Việc học hỏi Lời Chúa cần phải được quan tâm đặc biệt trong giáo xứ, và các buổi cầu nguyện với Lời Chúa theo lectio divina. Xây dựng nhóm cầu nguyện truyền giáo. Củng cố sinh hoạt Legio Mariae trở thành những nhóm tông đồ truyền giáo.

- Đào tạo người môn đệ thừa sai cho các thành viên Hội đồng Mục vụ Giáo xứ, thành viên của các hội đoàn tông đồ giáo dân. Nội dung đào tạo: đào sâu nền tảng Giáo lý về đức tin Công giáo, tìm phương thế giúp người môn đệ thừa sai gặp gỡ Chúa Giêsu cách hữu hiệu, kiến tạo môi trường hiệp thông qua các sinh hoạt thể hiện tinh thần cộng tác trong Giáo xứ. Chương trình hành động đồng hành với các bạn trẻ và thiếu nhi, tân tòng và các gia đình trẻ.

- Giáo xứ là trạm chăm sóc người nghèo, vì thế người môn đệ thừa sai cộng tác trong sinh hoạt bác ái của giáo xứ qua việc chăm sóc và phục vụ người nghèo. Đặc biệt người môn đệ thùa sai chủ động trong việc xây dựng nhóm hoạt động bác ái trong giáo xứ như đi thăm viếng người già neo đơn, bệnh nhân đơn độc, những gia đình có hoàn cảnh khó khăn…

- Giáo xứ mang lất sứ vụ truyền giáo theo bản chất vì thế công việc mục vụ ưu tiên của giáo xứ là truyền giáo. Do đó, giáo xứ phải hình thành tổ truyền giáo hoạt động theo định hướng của giáo phận và theo hoàn cảnh cụ thể của giáo xứ. Người môn đệ thừa sai là hạt nhân của tổ truyền giáo, hay nói cách khác mỗi một thành viên của tổ truyền giáo là người môn đệ thừa sai.

Kết

Giáo xứ là môi trường đào tạo để mỗi người Kitô hữu là một đệ thừa sai, vì thế giáo xứ phải xây dựng kế hoạch mục vụ cụ thể để giáo xứ thành một cộng đoàn môn đệ thừa sai, nhờ đó giáo xứ trở thành môi trường giúp người tín hữu dễ dàng nhận ra vai trò của mình trong việc đào luyện chính mình trở thành người môn đệ thừa sai. Kế hoạch mục vụ thiết nghĩ cần được xây dựng trên bốn chiều kích mục vụ: Phụng vụ, giáo lý, bác ái, truyền giáo. Đây là bốn chiều kích nền tảng nói lên bản chất của đời sống giáo xứ. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã làm sáng tỏ lý do hiện hữu của giáo xứ: “Tất cả chúng ta phải lấy lòng tin khám phá lại dung mạo đích thực của giáo xứ, tức là chính ‘mầu nhiệm’ Giáo hội đang hiện diện và hoạt động trong giáo xứ.[…] giáo xứ tiên vàn không phải là một cơ cấu, một lãnh địa, một tòa nhà; nhưng trước hết, ‘giáo xứ là gia đình của Thiên Chúa, là cộng đoàn huynh đệ chỉ có một tâm hồn’. […] giáo xứ được xây dựng trên một thực tại thần học, vì đó là một cộng đồng Thánh Thể. Thánh Thể là nguồn gốc sống động cho sự thiết lập và phát triển của giáo xứ, và là mối dây bí tích để giáo xứ hiệp thông hoàn toàn với toàn thể Giáo hội.”[11]. Vì hiệp thông hoàn toàn với Giáo hội nên giáo xứ cũng mang trong mình bản chất truyền giáo của Giáo hội, nên giáo xứ phải là môi trường để mọi giáo dân ra sức nỗ lực làm cho sự hiệp thông đích thực trong Giáo hội được tăng trưởng ngay trong lòng giáo xứ của mình và khơi dậy hứng khởi truyền giáo cho những người không tin và cho cả những tín hữu đã từ bỏ hay hời hợt với đời sống Kitô hữu”[12].

Kế hoạch mục vụ giáo xứ vì thế cần phải thúc đẩy mọi tín hữu trong giáo xứ nỗ lực hoán cải đời sống nội tâm, làm cho tâm hồn mình tràn ngập ánh sáng Chúa Kitô qua sự gặp gỡ diện đôi diện với Chúa trong mối tương quan cá vị với Đức Kitô. Mối tương quan này được triển nở từ một đức tin sống động và theo Đức Bênêđictô XVI: Tâm điểm của đức tin là một cuộc gặp gỡ. Cuộc gặp gỡ ấy không diễn ra một lần, mà lặp lại mỗi ngày: trong cầu nguyện, nơi Lời Chúa và Thánh Thể.[13] Nhất là khi tham gia tích cực vào các việc cử hành phụng vụ, người tín hữu trải nghiệm được cuộc gặp gỡ này để từ đó nhận ra ơn gọi được sai đi làm tông đồ, có thể nói “việc được sai phái xuất phát từ việc gặp gỡ Thiên Chúa và được nhắm đến đức tin của cả một cộng đồng. Điều này bao gồm cả việc nói năng, tức là khả năng truyền đạt lại, một vai trò mang tính quyết định”[14]. Từ nhận thức này người môn đệ thừa sai tiến vào sự hiệp thông với mọi thành phần Dân Chúa trong giáo xứ. Sự hiệp thông là mang lấy tầm vóc quan trọng trong đời sống đức tin. Chính nhờ sự hiệp thông mà mọi thành phần Dân Chúa trong giáo xứ kiến tạo thành một cộng đoàn mang tính hiệp hành của Giáo hội: hiệp thông, tham gia, sứ vụ. Và đây chính là môi trường để mỗi người Kitô hữu với tư cách là người môn đệ thừa sai tham dự tích cực vào kế hoạch mục vụ của giáo xứ.

 

BÀI III - SỐNG KÝ ỨC PHÉP RỬA: TRỞ VỀ VỚI ÂN SỦNG LÀM CON CÁI THIÊN CHÚA

PX. Nguyễn Thái

Phép Rửa không chỉ là khởi điểm của đời sống đức tin, mà còn là nguồn mạch sinh lực cho sứ vụ của mỗi Kitô hữu. Thánh Phaolô ghi rõ: “Bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Kitô, đều mặc lấy Đức Kitô” (Gl 3,27). Sống ký ức Phép Rửa là sống lại biến cố trọng đại ấy trong tâm hồn, là hành trình trở về với ân sủng nguyên thủy, khi ta được làm con Thiên Chúa; đồng thời cũng là nguồn sức mạnh thiêng liêng nâng đỡ bước chân làm môn đệ thừa sai, như Chúa Giêsu đã dạy: “Anh em là ánh sáng thế gian” (Mt 5,14).

1. Phép Rửa: Ân sủng tái sinh, biến đổi thành Con Thiên Chúa

Phép Rửa không chỉ là một nghi thức hay biểu tượng bên ngoài, mà là bí tích thần linh sâu sắc. Bí tích ấy tác động thấm nhập, biến đổi tâm hồn mỗi tín hữu: “Nhờ Phép Rửa, chúng ta được tha thứ mọi tội lỗi, được tái sinh trong Thánh Thần, và trở thành con cái Thiên Chúa” (x Rm 6,3-4).

Phép Rửa trao ban sự sống mới trong Đức Kitô, phá vỡ xiềng xích tội lỗi, mở rộng cánh cửa thân thể mầu nhiệm Giáo hội. Đức Thánh Giáo hoàng Phaolô VI trong Tông huấn ‘Evangelii Nuntiandi’ (Loan báo Tin mừng) nhấn mạnh: “Sứ vụ loan báo Tin mừng bắt đầu từ biến cố biến đổi nội tâm, được củng cố bởi đời sống thánh thiện.” Qua ký ức Phép Rửa, ta không chỉ nhận biết mình được chọn làm con Thiên Chúa, mà còn nhận diện căn tính làm môn đệ thừa sai, được sai đi để làm chứng cho ân sủng ấy giữa lòng thế gian hôm nay.

2. Canh tân ân sủng Phép Rửa qua đời sống hiệp hành và cầu nguyện

Sống ký ức Phép Rửa còn là hành trình hiệp hành, biểu hiện chiều kích thần học quan trọng của thời đại chúng ta. Điều này được khẳng định qua Văn kiện chung kết Thượng Hội đồng Giám mục 2024 và tài liệu ‘Các lộ trình cho giai đoạn thực hiện Thượng Hội đồng’ (2025) - những hướng dẫn thiết thực trong việc hiện thực hóa tinh thần hiệp hành tại các Giáo hội địa phương.

Đức Giáo hoàng Phanxicô trong Tông huấn Niềm vui Tin mừng (Evangelii Gaudium) viết: “Mỗi Kitô hữu là môn đệ thừa sai, cần vững vàng trong đời sống cầu nguyện và hiệp thông, để ánh sáng của Phép Rửa chiếu soi chân lý và tình yêu vào thế giới.”

Chúng ta được mời gọi trở về nguồn cội Phép Rửa qua cầu nguyện sâu sắc, suy niệm Lời Chúa và sống tâm tình khiêm nhường, thống hối. Giáo hội Việt Nam trong Thư chung 2025 cũng nhấn mạnh, chính qua đời sống cầu nguyện, Thánh Thể và sự hiệp hành, nội lực thiêng liêng được tái sinh mỗi ngày. Phép Rửa, như ánh sáng ban đầu, cần được gìn giữ, duy trì và phát triển bằng tinh thần hiệp hành, góp phần xây dựng Giáo hội hiệp nhất và nâng cao hiệu quả sứ vụ loan báo Tin mừng.

3. Sống làm Con Thiên Chúa và sứ vụ thừa sai từ ân sủng Phép Rửa

Phép Rửa làm cho chúng ta trở nên con Thiên Chúa đích thực, đồng thời trao ban sứ mạng làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa qua đời sống chứng nhân. Chúa Giêsu đã khẳng định: “Anh em là ánh sáng thế gian… không ai thắp đèn rồi lại đem che dưới gầm bàn” (Mt 5,14-15). Đây là lời mời gọi sống động, kêu gọi mỗi Kitô hữu ra khơi trong sứ vụ thiêng liêng phát sinh từ ân sủng Phép Rửa, làm môn đệ thừa sai, mang đèn Tin mừng rọi sáng những góc khuất tăm tối của thế giới.

Chứng nhân

Tôi cũng như nhiều anh chị em trong cộng đoàn đã trở nên con Thiên Chúa ngay từ những ngày tháng đầu đời khi lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy, rồi tiếp tục bước đi trong đời sống đức tin qua các bí tích Thánh Thể và Thêm sức. Những năm ấy, tôi học giáo lý và tham gia các hoạt động cộng đoàn, nhưng tất cả dường như chỉ là các sinh hoạt bên ngoài, chưa thực sự chạm sâu vào tâm hồn mình. Tôi từng đánh mất Chúa nơi nội tâm, trống trải và chưa trọn vẹn đón nhận tình yêu thương đầy ấm áp của Ngài.

Mọi thứ thay đổi khi tôi bắt đầu gặp Chúa trong từng giờ phút cầu nguyện sốt sắng, sống Lời Chúa và khát khao kết hiệp với Ngài trong từng công việc thường ngày. Lúc ấy, tôi cảm nhận rõ sự hiện diện và hoạt động của Thánh Thần trong lòng, nhận ra ân sủng sâu xa của Bí tích Thanh tẩy, được sống trong Đức Kitô và tiếp tục được Ngài dẫn dắt bằng sức sống và tình yêu vô biên.

Gặp gỡ và ở lại trong Chúa, Thánh Thần thúc đẩy tôi ra đi làm chứng cho Ngài giữa đời thường. Dù trải qua những lúc yếu đuối, bệnh tật, tôi vẫn được tiếp thêm sức mạnh vượt qua thử thách từ nơi Ngài. Hành trình đức tin của tôi giản dị, không hoa mỹ, chỉ đơn giản là dành thời gian cầu nguyện, làm mọi việc trong tinh thần nguyện cầu và sống linh đạo hiệp hành trong cộng đoàn: gặp gỡ, lắng nghe và hòa hợp nhau trong tình yêu của Chúa. Đến nay, tôi giữ mãi trong lòng sứ mạng truyền giáo, nhiệt thành với những anh chị em chưa biết Chúa, đồng thời dấn thân giúp các nhóm, các hội đoàn học hỏi và sống Lời Chúa mỗi ngày trưởng thành hơn trong sứ vụ.

Hồi tâm

- Sống ký ức Phép Rửa là canh tân ơn gọi làm con Thiên Chúa, là trở về với Ngài trong ân sủng qua đời sống cầu nguyện và hiệp hành. Tôi có thực sự trung thành và kiên định trong hành trình này không?

- Là môn đệ thừa sai, tôi đã có kế hoạch cụ thể nào để loan báo Tin mừng trong đời sống thường nhật chưa?

Cầu nguyện

Lạy Chúa, ký ức Phép Rửa không đơn thuần là ghi nhớ khoảnh khắc chúng con trở nên con Chúa, mà là hành trình sống động, hồi sinh và củng cố nội lực thiêng liêng trong tâm hồn. Xin cho chúng con trở nên môn đệ thừa sai rạng ngời ánh sáng giữa đời. Trong thế giới biến động hôm nay, xin cho chúng con luôn trở về với ân sủng Phép Rửa, ngọn nguồn sáng của chân lý, tình yêu và hy vọng, để mỗi người chúng con được sai đi với sức mạnh, niềm vui và nhiệt huyết loan báo Tin mừng cứu độ. Amen.

 

BÀI IV - SỐNG SỰ TỰ DO VÀ TRƯỞNG THÀNH CỦA NGƯỜI ĐÃ LÃNH NHẬN PHÉP RỬA

Lm. Giuse Nguyễn Ngọc Ngoạn

Trong chương trình Thường huấn hằng tháng năm 2026, Ủy ban Giáo dân trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam đã triển khai đề tài bám sát đường hướng sứ vụ của Hội thánh tại Việt Nam với chủ đề: “Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai – ‘Anh em là ánh sáng thế gian’ (Mt 5,14).”

Trong dòng chảy ấy, năm 2026 được xác định như một bước bản lề, đặc biệt nhấn mạnh căn tính, ơn gọi và sứ mạng của người giáo dân trong đời sống Hội thánh hiệp hành. Người giáo dân không chỉ hiện diện như những người cộng tác, nhưng là chủ thể đồng trách nhiệm, cùng cộng đoàn tham gia định hình cơ cấu, canh tân quản trị mục vụ, thực hành phân định chung và cùng nhau thi hành sứ mạng loan báo Tin mừng.

Trong bối cảnh đó, người giáo dân được mời gọi cùng nhau tìm hiểu và sống cách sâu sắc sự tự do và trưởng thành của người đã lãnh nhận Phép Rửa.

1. Phép Rửa nền tảng của đời sống mới

Nhờ lãnh nhận Phép Rửa, người Kitô hữu được giải thoát khỏi tội nguyên tổ và các tội riêng, được tái sinh và trở nên con cái Thiên Chúa. Qua bí tích này, chúng ta được thông phần vào mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh của Chúa Giêsu, đồng thời được gia nhập vào Hội thánh là Dân riêng của Thiên Chúa.

Phép Rửa làm nên một cuộc tái sinh thiêng liêng, mở ra đời sống mới trong tự do và trưởng thành, cả về nhân bản lẫn đức tin. Nhờ đó, người Kitô hữu khám phá ra ý nghĩa đời sống, ơn gọi và định hướng cuộc đời mình. Phép Rửa không chỉ là một nghi thức khai tâm, nhưng là khởi đầu của một hành trình sống tự do và trưởng thành trong Đức Kitô. Tự do và trưởng thành chính là hoa trái của ân sủng Phép Rửa, được Thiên Chúa ban tặng cho nhân loại qua công trình cứu độ của Chúa Giêsu Kitô.

2. Sự tự do đích thực trong Đức Kitô

Phép Rửa là dấu chỉ cho thấy con người đã thuộc về Hội thánh của Chúa Kitô. Nhờ Phép Rửa, chúng ta được tự do trong Đức Kitô, được giải thoát khỏi tội lỗi và sự chết, thoát khỏi ách nô lệ của tội lỗi và quyền lực của sự dữ.

Nhờ ân sủng Phép Rửa, người Kitô hữu không còn sống dưới sự chi phối của thế gian, ma quỷ và xác thịt, nhưng được mời gọi bước vào một đời sống mới trong chân, thiện, mỹ, sống yêu thương, phục vụ và hiến thân trong tình yêu của Thiên Chúa. Qua Phép Rửa, chúng ta được Thiên Chúa yêu thương, cứu độ và thánh hóa, để sống đúng với phẩm giá của con người và phẩm giá làm con cái Thiên Chúa.

3. Trưởng thành trong đời sống nhân bản và đức tin

Ân sủng Phép Rửa giúp người Kitô hữu ngày càng trưởng thành trong đời sống nhân bản cũng như đời sống đức tin. Người tín hữu được lớn lên trong đức tin, cậy, mến; hiểu biết hơn về giáo lý, giáo luật và Lời Chúa; đồng thời nhận ra giá trị và ý nghĩa đích thực của cuộc đời mình với tư cách là con cái Chúa.

Sự trưởng thành ấy được thể hiện cụ thể trong đời sống đạo: biết sống xứng đáng với phẩm giá con người, sống có trách nhiệm, sẵn sàng dấn thân yêu thương và phục vụ để làm chứng cho Tin mừng tình thương của Thiên Chúa. Trong đời sống cá nhân, Kitô hữu biết trưởng thành về nhân cách, siêng năng tham dự phụng vụ, hy sinh cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích. Trong đời sống cộng đoàn, người tín hữu biết gắn bó, xây dựng và phục vụ cộng đoàn, Hội thánh và xã hội.

Nhờ ân sủng Phép Rửa, người Kitô hữu cũng biết phân định trước những biến cố của cuộc đời, nhận ra điều đúng sai của trần thế, và kiên vững bước đi trên con đường chân thiện mỹ của Thiên Chúa.

4. Chứng nhân Tin mừng giữa một thế giới đầy thách đố

Giữa một thế giới còn nhiều sa đọa, gian tà, bạo lực, ích kỷ, hưởng thụ và vô cảm; giữa những đau khổ do bệnh tật, đói nghèo và chiến tranh, người Kitô hữu được mời gọi trở nên chứng nhân cho Tin mừng tình thương của Thiên Chúa.

Bằng một đời sống tự do và trưởng thành nhờ Phép Rửa, người Kitô hữu giúp thế gian nhận ra Thiên Chúa là Tình Yêu và là nguồn ơn cứu độ. Điều đó được thể hiện qua đời sống kiên vững trong đức tin, phó thác trong tình thương Thiên Chúa, cậy trông vào sự quan phòng của Chúa, và luôn sống công bình, bác ái với mọi người, không phân biệt lương hay giáo.

Kitô hữu làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa bằng đời sống cụ thể nơi bản thân, gia đình, cộng đoàn và xã hội; trong học tập, lao động và trong sứ mạng loan báo Tin mừng mà Chúa đã trao phó.

5. Hành trình suốt đời sống ân sủng Phép Rửa

Phép Rửa do chính Chúa Kitô thiết lập và Thiên Chúa trao ban cho chúng ta là điểm khởi đầu của một hành trình suốt đời: hành trình sống tự do và trưởng thành trong tình yêu Thiên Chúa, để đạt tới đời sống nhân bản tròn đầy và sống xứng đáng là con cái Chúa.

Người Kitô hữu được mời gọi sống xứng đáng với ân sủng Phép Rửa đã lãnh nhận, trở nên chứng nhân của sự tự do, trưởng thành và của tình yêu hy sinh phục vụ trong Chúa. Nhờ ân sủng và tình thương của Ba Ngôi Thiên Chúa, mỗi người có thể nên thánh bằng chính đời sống thường ngày: chu toàn bổn phận, kiên trì cầu nguyện trong thử thách, nỗ lực hoán cải bản thân, và luôn cố gắng “nghĩ tốt, nói tốt, làm tốt” cho anh chị em mình, sống với nhau trong tinh thần yêu thương phục vụ như Chúa đã yêu thương chúng ta.

Sống sự tự do và trưởng thành trong tình yêu Thiên Chúa là một hành trình kéo dài suốt cuộc đời. Dù còn sống trong một thế giới tương đối, đầy giới hạn và khó khăn, nhưng nhờ ân sủng và tình thương của Thiên Chúa, hành trình ấy vẫn là niềm vui và niềm hy vọng, không chỉ cho mỗi Kitô hữu, mà còn cho toàn thể nhân loại.

Hồi tâm

Tôi đang sống sự tự do của người đã lãnh nhận Phép Rửa như thế nào? Trong những chọn lựa, lối sống và các mối tương quan hằng ngày, tôi có thực sự được giải thoát khỏi tội lỗi, ích kỷ và những ràng buộc của thế gian để sống theo con đường chân thiện mỹ của Thiên Chúa hay chưa?

- Những dấu chỉ nào cho thấy tôi đang trưởng thành trong đức tin và nhân bản? Tôi có ý thức sống xứng đáng với phẩm giá là con cái Thiên Chúa qua đời sống cầu nguyện, tham dự phụng vụ, lãnh nhận các bí tích và tinh thần trách nhiệm phục vụ trong gia đình, cộng đoàn và xã hội không?

- Tôi đang làm chứng cho Tin mừng tình thương bằng đời sống cụ thể ra sao? Giữa một thế giới nhiều đổ vỡ và ích kỷ, tôi có trở nên ánh sáng nhờ cách “nghĩ tốt, nói tốt, làm tốt”, yêu thương và hy sinh phục vụ mọi người, không phân biệt, như hoa trái của ân sủng Phép Rửa hay không?

Ủy ban Giáo dân
04/01/2026


[1] Thư chung Hội đồng Giám mục Việt Nam 2025, số 2, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/thu-muc-vu-nam-2025-cua-hoi-dong-giam-muc-viet-nam-gui-cong-dong-dan-chua-%E2%80%9Ccung-nhau-loan-bao-tin-mung%E2%80%9D

[2] Đức Phanxicô, Tông huấn Niềm vui Tin mừng, số 20, tại https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tong-huan-niem-vui-cua-tin-mung-evangelii-gaudium-46656

[3] Nt số 24.

[4] Văn Kiện Chung Kết Của Đại Hội Thường Lệ Lần Thứ XVI Của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới, Số 15, nguồn: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/van-kien-chung-ket-cua-dai-hoi-thuong-le-lan-thu-xvi-cua-thuong-hoi-dong-giam-muc

[5] Ủy ban Thần học Quốc tế [International Theological Commission], Tính hiệp hành trong đời sống và sứ vụ của Giáo hội (02/3/2018), số 53

[6] Đức Phanxicô, Tông huấn Niềm vui Tin Mừng, số 36

[7] Văn Kiện Chung Kết Của Đại Hội Thường Lệ Lần Thứ XVI Của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới, Số 14.

[8] Đức Phanxicô, Tông huấn Niềm vui Tin Mừng, số 24

[9] Đức Phanxicô, Tông huấn Niềm vui Tin Mừng, số 28

[10] Nt số 24.

[11] Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Tông huấn “Người tín hữu Giáo dân” số 26.

[12] Nt, số 27

[13] Joseph Ratzinger, Thiên Chúa và Trần Thế, dịch giả: Phạm Hồng Lam, nxb. Tôn Giáo, Hà Nội 2011, tr. 250-251

[14] Georg Fischer SJ & Martin Hasitschka SJ, Vâng Theo Lời Thầy, dịch giả Lm. Guetico Phạm Cao Vũ O.Cist, NXB Đồng Nai 2025, trg.21.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây