TIN MỪNG CHÚA NHẬT - LỄ TRỌNG

Chúa Nhật IV Phục Sinh -Năm A

“Ta là cửa chuồng chiên” (Ga 10,1-10)
Đọc các tin khác ➥
TÌM KIẾM

CHIÊN & MỤC TỬ

Thứ bảy - 25/04/2026 21:33 | Tác giả bài viết: GB. Nguyễn Thái Hùng |   24
Khi Chúa Giêsu tự xưng là Mục Tử Nhân Lành, Người đang mặc lấy hình ảnh của sự hy sinh, chăm sóc và tình yêu gần gũi nhất với con người thời ấy và cả con người ngày nay nữa.
CHIÊN & MỤC TỬ
CHIÊN & MỤC TỬ



1 “Thật, tôi bảo thật các ông: Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp.2 Còn ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử.3 Người giữ cửa mở cho anh ta vào, và chiên nghe tiếng của anh; anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra.4 Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh.5 Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ.”6 Đức Giê-su kể cho họ nghe dụ ngôn đó. Nhưng họ không hiểu những điều Người nói với họ.

7 Vậy, Đức Giê-su lại nói: “Thật, tôi bảo thật các ông: Tôi là cửa cho chiên ra vào.8 Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm cướp; nhưng chiên đã không nghe họ.9 Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ.10 Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá huỷ. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.

11 Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.” (Ga 10, 1-11)

I. MỤC TỬ TRONG THÁNH KINH


Hình ảnh người mục tử là một trong những sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ mặc khải Thánh Kinh, từ những trang đầu của Cựu Ước đến những trang cuối của Tân Ước.

1. Thiên Chúa là Mục Tử của dân Người (Cựu Ước)

Dân Ítraen sống nhiều với nghề nông và chăn nuôi. Người chăn chiên phải dẫn đàn vật đi tìm cỏ và nước, bảo vệ khỏi thú dữ và trộm cướp, biết từng con chiên, chữa con bị thương, đi tìm con lạc, thức đêm canh giữ…

Vì thế, mục tử trở thành hình ảnh lý tưởng của người lãnh đạo biết chăm sóc, hướng dẫn và hy sinh.

Trong Cựu Ước, Thiên Chúa không chỉ là một vị Vua uy quyền mà còn hiện thân như một người chăn dắt tận tụy.

- Hình ảnh nổi tiếng nhất nằm ở Thánh vịnh 23: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì”. Ở đây, Thiên Chúa dẫn đến đồng cỏ xanh, đưa tới suối nước trong, bổ sức cho linh hồn, bảo vệ giữa thung lũng tối, chuẩn bị bàn tiệc cho con cái.

Mục tử không cai trị bằng sợ hãi nhưng bằng tình yêu và sự hiện diện. Isaia 40, 11: “Như mục tử, Người chăn giữ đoàn chiên mình; tập họp chiên con vào lòng…” Thiên Chúa dịu dàng với kẻ yếu, bồng ẵm chiên non, dẫn dắt chiên mẹ. Đây là hình ảnh rất cảm động về lòng thương xót.

- Khi dân Ítraen đi trong sa mạc, Thiên Chúa đi trước họ (cột mây, cột lửa). Ngài tìm kiếm những con chiên lạc, băng bó những con bị thương và canh giữ chúng trước thú dữ cũng như các thế lực thù địch.

- Thiên Chúa muốn dân Ngài được sống trong sự tự do, an toàn và no thỏa. Ngài không cai trị bằng nỗi sợ, nhưng bằng sự chăm sóc ân cần.
2. Các vua và thủ lãnh Ítraen cũng được gọi là mục tử

Trong Cựu Ước, vua không chỉ là nhà cầm quyền, mà còn là mục tử của dân.
- Vua Đavít – mẫu gương mục tử

Đavít trước khi làm vua là người chăn chiên. Chính từ đồng cỏ, Thiên Chúa gọi ông lên làm vua. “Ta đã đem ngươi từ đồng cỏ, từ sau đoàn chiên, để ngươi làm thủ lãnh dân Ta.” (2 Sm 7, 8)

Điều này nói lên rằng người lãnh đạo tốt phải biết chăm dân như chăm đàn chiên.

- Nhưng nhiều mục tử đã thất bại

Có những giai đoạn các lãnh đạo dân Do Thái, như vua chúa và tư tế, đã bóc lột dân, lo quyền lợi riêng, bỏ mặc người nghèo, làm ngơ trước sứ mạng. Vì thế các ngôn sứ lên án họ rất mạnh. Qua ngôn sứ Êdêkien (chương 34), Thiên Chúa đã đưa ra lời khiển trách nảy lửa.

- Mục tử giả là những kẻ chỉ biết ‘vỗ béo chính mình’, ăn sữa và mặc len chiên nhưng lại để mặc đoàn chiên tan tác, bị thú dữ xé xác.

- Vì các mục tử loài người bất xứng, Thiên Chúa tuyên bố: “Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta... Ta sẽ tìm con chiên đã mất, đưa về con chiên lạc, băng bó con chiên bị thương và làm cho con chiên bệnh tật nên mạnh mẽ.” Thiên Chúa hứa ban một vị mục tử chân thật.

3. Người mục tử chân thật trong ý muốn của Thiên Chúa

Dựa trên Thánh Kinh, một mục tử chân thật ‘theo lòng Chúa mong muốn’ (Gr 3, 15) phải hội đủ các đặc điểm sau:

- Mục tử chân thật không quản trị bằng sổ sách, mà bằng sự hiểu biết sâu sắc. Chúa Giêsu nói: “Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi” (x. Ga 10, 1-10). Cái ‘biết’ này không phải là nắm bắt thông tin, mà là sự hiệp thông trọn vẹn về tâm hồn.

- Người mục tử không đứng từ xa để ra lệnh. Trong văn hóa Trung Đông, mục tử đi trước, chiên theo sau. Điều này tượng trưng cho việc làm gương trước khi dạy dỗ. Mục tử đối diện với nguy hiểm trước khi đoàn chiên phải đối mặt.

- Sự hy sinh tự nguyện của mục tử. Đây là đỉnh cao của hình ảnh mục tử trong Tân Ước. Chúa Giêsu định nghĩa: “Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11). Kẻ làm thuê thấy sói đến thì chạy vì chiên không thuộc về họ. Còn mục tử thật coi mạng sống của chiên quý giá hơn mạng sống mình.

- Dụ ngôn con chiên lạc (Lc 15) nói lên lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa. Thiên Chúa không chấp nhận mất đi dù chỉ một con. Người mục tử chân thật sẵn sàng để lại 99 con, đã an toàn, để lặn lội đi tìm một con duy nhất đang hư mất.

4. Chúa Giêsu vị Mục tử chân thật

Khi Chúa Giêsu nói “Ta là Mục Tử Nhân Lành” (Ga 10, 11), Ngài đang nhận lấy toàn bộ truyền thống Cựu Ước: Chúa là Mục Tử (Tv 23), Thiên Chúa đi tìm chiên lạc (Ed 34), vua Đavít mới sẽ đến (Mêsia),..

Và Chúa Giêsu làm điều ấy cách trọn hảo. Ngài biết từng con chiên, gọi tên từng người, tìm người tội lỗi, chữa lành kẻ đau yếu, và cuối cùng, hiến mạng sống vì đoàn chiên trên thập giá.

II. VÀI HÌNH ẢNH CHIÊN TRONG CỰU ƯỚC

Trong Cựu Ước, hình ảnh con chiên mang nhiều chiều kích, vừa là của cải quen thuộc trong đời sống du mục, vừa là lễ vật tế tự, vừa là dấu chỉ cứu độ, và cuối cùng trở thành hình bóng tiên trưng về Đức Kitô – Chiên Thiên Chúa trong Tân Ước.


1. Aben dâng chiên đầu lòng

Aben dâng lên Chúa những con đầu lòng trong đàn vật, và phần béo tốt nhất. Của lễ của Aben đẹp lòng Thiên Chúa (St 4, 1-8).

Còn Cain dâng hoa màu ruộng đất, nhưng lòng không ngay chính. Thiên Chúa đoái nhận lễ vật của Aben.

Không phải vì thịt chiên quý hơn nông sản, nhưng vì Aben dâng với đức tin và lòng chân thành. Aben không dâng phần thừa, nhưng phần đầu mùa và tốt nhất.
Và Aben bị Cain giết. Từ đây, chiên gắn với sự vô tội bị sát hại.

Aben vô tội bị giết báo trước Chúa Kitô, Đấng Công Chính cũng sẽ bị sát hại.


2.
Con chiên thay thế


Thiên Chúa thử thách Apraham dâng Ixaác. Khi ông vâng phục, Chúa cho một con cừu đực mắc sừng trong bụi cây để thay thế (St 22).

Khác với nhiều dân ngoại thời đó, Thiên Chúa không muốn hiến tế con người. Ngài muốn chấm dứt ý tưởng tế người. Và điều quý nhất nơi tổ phụ Apraham là sẵn sàng trao cho Chúa lòng tin tuyệt đối vào Ngài.

Apraham nói: “Thiên Chúa sẽ liệu con chiên làm lễ toàn thiêu.”

Câu này mang tính ngôn sứ, có liên hệ Chúa Kitô.

Hình ảnh Ixaác mang củi lên núi báo trước Chúa Giêsu vác thập giá.

Chúa Giêsu là Con Một yêu dấu mà Thiên Chúa ban cho nhân loại làm lễ tế.



3. Chiên Vượt Qua đêm Xuất Hành – dấu chỉ cứu độ

Vào đêm Vượt qua, mỗi gia đình Ítraen sát tế một con chiên đực, không tì vết, một tuổi, lấy máu bôi khung cửa, ăn thịt chiên quay với bánh không men và rau đắng.

Thiên Chúa đi qua, tha các nhà có dấu máu (Xh 12).

Máu là dấu chỉ sự sống và giao ước. Ăn chiên trong tư thế lên đường, sẵn sàng ra khỏi kiếp nô lệ. Biến cố này sinh ra dân Ítraen như một dân tộc tự do.

Sau này, trong Tân Ước tuyên xưng: Chúa Kitô, Chiên Vượt Qua của chúng ta, đã chịu hiến tế.

4. Chiên dùng trong phụng tự Đền Thờ

- Lễ toàn thiêu hằng ngày (Xh 29, 38-42)

Mỗi ngày sáng chiều dâng hai con chiên. Điều này nói lên ý nghĩa cầu nguyện liên lỉ, và tạ ơn thường xuyên.

- Lễ đền tội, lễ giao hòa

Chiên thường là lễ vật thay cho người có tội. Nói lên con người ý thức tội lỗi cần được thanh tẩy.

5. Người Tôi Trung như chiên bị đem đi làm thịt

“Người bị áp bức mà cam chịu, như chiên bị đem đi làm thịt” (Is 53).
Đây là hình ảnh người công chính chịu đau khổ thay cho nhiều người.
Bản văn này được Hội Thánh sơ khai áp dụng trực tiếp cho Chúa Giêsu chịu nạn.

6. Giêrêmia

Ngôn sứ nói: “Tôi như con chiên hiền bị đem đi giết” (Gr 11, 19).
Người được Chúa sai đi, hiền lành nhưng không yếu đuối và thường bị chống đối.

7. Đavít – mục tử của chiên trở thành vua Ítraen

Đavít từng chăn chiên trước khi lãnh đạo dân. Người biết chăm đàn chiên mới học được cách chăm dân Chúa. Từ đây nảy sinh hình ảnh vua lý tưởng là mục tử.

8. Những nét thần học lớn của hình ảnh chiên trong Cựu Ước

- Chiên là lễ vật vô tội, tượng trưng sự tinh tuyền.
- Chiên mang ý nghĩa thay thế, chết thay cho người tội lỗi.
- Chiên đêm Vượt Qua mở đường ra khỏi kiếp nô lệ.
- Chiên gắn với giao ước, máu chiên đánh dấu dân thuộc về Chúa.
- Mọi hình ảnh chiên hướng đến Đấng Mêsia đều quy về Chúa Kitô.

9. Tất cả hoàn tất nơi Chúa Giêsu Kitô.

Khi Gioan Tẩy Giả nói: “Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” (Ga 1, 29), ông gom toàn bộ Cựu Ước như chiên của Aben đẹp lòng Chúa, chiên thay Ixaác, chiên Vượt Qua, chiên tế lễ trong Đền Thờ, chiên đau khổ Isaia 53… Tất cả điều này nay thành hiện thực nơi Chúa Giêsu Kitô.

III. VÀI HÌNH ẢNH CHIÊN TRONG TÂN ƯỚC




Trong Tân Ước, hình ảnh chiên xuất hiện rất nhiều. Đây không chỉ là con vật quen thuộc của Palestine, mà còn là biểu tượng thần học lớn: dân Chúa, người tín hữu, người tội lỗi cần được cứu, cộng đoàn Hội Thánh, và chính Chúa Kitô là Con Chiên hiến tế.

1. Chúa Giêsu và hình ảnh chiên


Tại Do Thái thời Chúa Giêsu chiên là tài sản quý giá của gia đình. Chiên dễ đi lạc, yếu đuối, không tự vệ mạnh, chiên còn được dùng làm lễ tế vượt qua, cho nên chiên cần người chăn dắt liên tục.

Vì thế chiên tượng trưng cho dân Chúa, những con người đơn sơ cần được dẫn dắt, yêu thương.

2. Dụ ngôn 100 con chiên – một con đi lạc

Người mục tử bỏ 99 con để đi tìm 1 con lạc, khi tìm thấy thì vui mừng vác lên vai mang về (Mt 18, 12-14; Lc 15, 3-7).

Thiên Chúa không nhìn người như con số. Mỗi người đều quý giá trước mặt Thiên Chúa. Một người lạc mất cũng đáng để đi tìm.


Theo kinh tế thì không hợp lý. Nhưng tình yêu Thiên Chúa vượt logic lời lỗ. Và trên trời vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn trở lại.

3. Chiên và dê ngày Quang lâm



Con Người tách muôn dân như mục tử tách chiên khỏi dê. Chiên bên phải được chúc phúc. Dê bên trái bị loại (Mt 25, 31-46).

Tại Trung Đông, chiên và dê thường chăn chung nhưng tối đến được tách riêng. Chiên thường lắng nghe và đi theo. Dê thì hay phá phách, phản kháng, chống đối.

4. Gioan chương 10 – Chiên nghe tiếng chủ chăn

Trong Gioan chương 10, chiên nhận ra tiếng chủ như người tín hữu nhận ra tiếng Chúa giữa bao tiếng gọi khác.

Người mục tử gọi tên từng con. Chúa biết mỗi người chúng ta, biết tên, và được yêu riêng.

Chiên theo người mục tử, người tín hữu không chỉ nghe, nhưng bước theo.

5. Bờ biển Tibêria – “Hãy chăn dắt chiên của Thầy”

Sau phục sinh, Chúa hỏi Phêrô ba lần: “Con có yêu mến Thầy không?” (Ga 21). Rồi trao sứ vụ cho ông “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy”. “Hãy chăn dắt chiên của Thầy”…

Đoàn chiên là của Chúa. Phêrô chỉ là người được trao phó. Chúa trao quyền lãnh đạo cho Phêrô không phải vì chức vị mà từ lòng yêu mến.

6. Những hình ảnh khác

Trong Tân Ước còn nhiều hình ảnh khác về chiên
- “Chiên không người chăn” (Mc 6, 34).

Chúa chạnh lòng thương đám đông bơ vơ.

- “Ta sai anh em như chiên vào giữa sói” (Mt 10, 16).

Người môn đệ hiền lành nhưng khôn ngoan, không dùng bạo lực.

- “Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” (Ga 1, 29).

Gioan Tẩy Giả giới thiệu Chúa Giêsu là Con Chiên Thiên Chúa. Điều này giúp ta nhớ đến chiên vượt qua Xuất Hành, chiên hiến tế trong Đền thờ, cũng như Người Tôi Trung đau khổ trong Is 53.

- Con Chiên bị sát tế nay chiến thắng và ngự trị vinh quang trong sách Khải Huyền.

IV. NGƯỜI CHĂN CHIÊN THỜI CHÚA GIÊSU

1. Truyền thống Thánh Kinh

Người Do Thái nhớ rằng nhiều nhân vật lớn từng là mục tử như Aben chăn chiên. Tổ phụ Apraham, Ixaác, Giacóp là những người sống du mục có bầy gia súc lớn. Ngôn sứ Môsê chăn chiên tại Mađian hay như Đavít là mục đồng trước khi làm vua.

Thiên Chúa cũng được gọi là Mục Tử Ítraen (Tv 23; Ed 34).

Vì thế, về mặt Thánh Kinh, nghề chăn chiên thật đáng kính.

2. Xã hội thời Chúa Giêsu

Đến thế kỷ I, đời sống kinh tế thay đổi. Xã hội thiên về nông nghiệp định canh, làng mạc có tổ chức, thương mại phát triển, và những luật lệ tôn giáo được thực thi cách chặt chẽ như giữ luật thanh sạch.

Người chăn chiên thường sống ngoài đồng, di chuyển liên tục, xa khu dân cư. Vì vậy họ bị nhìn với nhiều định kiến.

- Vì là nghề vất vả, ít tiền, ít học, sống lang bạt. Không thuộc giới giàu có hay tầng lớp có địa vị nên bị xem là tầng lớp thấp.

- Một số tài liệu Do Thái sau này cho thấy người chăn chiên đôi khi bị gán tiếng xâm phạm đất người khác cho chiên ăn, khó giữ ranh giới tài sản, dễ gian dối trong buôn bán…

- Vì ở ngoài đồng tiếp xúc thú vật, khó rửa tay theo nghi thức, khó giữ ngày Sabbat cách tỉ mỉ, khó tham dự hội đường thường xuyên. Nên giới đạo đức khắt khe coi họ là “không chuẩn mực”.

3. Người chăn chiên bị đối xử

- Người chăn chiên không phải nhóm có tiếng nói xã hội hay tôn giáo.

- Một số truyền thống rabbi xem lời chứng của vài nghề nghiệp lang bạt ít đáng tin.

-  Người trí thức tôn giáo thường không muốn đồng hóa với họ.

Tuy nhiên, cần nói công bằng, không phải mọi người Do Thái đều ghét người chăn chiên. Đây là xu hướng xã hội chứ không tuyệt đối.

4. Người chăn chiên Bêlem đêm Chúa Giáng Sinh

Tin Mừng Luca kể: “Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật.” (Lc 2, 8-20)

- Người chăn chiên là người lao động nghèo, người bình dân thức giữa đêm lạnh, làm việc nặng nhọc. Họ không phải giới quyền quý, không phải tư tế, không phải học giả.


- Người chăn chiên sống ở vùng gần Bêlem, một vùng đồi có đồng cỏ quanh năm theo mùa, thích hợp nuôi chiên. Gần thành Giêrusalem, có thể họ là những mục đồng chăn đàn chiên cho việc tế tự.  Bêlem cũng là quê vua Đavít, vị vua từng là mục tử.

Điều này có ý nghĩa biểu tượng mạnh. Đavít mục tử sinh từ Bêlem nay Chúa Giêsu, Con vua Đavít, cũng sinh tại Bêlem.

- Tại sao thiên thần hiện ra với họ trước? Đây là thần học Luca rất sâu sắc, bởi vì Thiên Chúa ưu ái người nghèo, người bé mọn, người bị xem thường, người mở lòng đón nhận.

Hêrôđê được nghe tin trước, các kinh sư biết nơi Vua Do thái giáng sinh nhưng họ không mở lòng. Người chăn chiên đã được nghe Tin mừng đầu tiên, nghĩa là ơn cứu độ đến trước hết cho những ai khiêm nhường.

- Khi nghe tin, người mục đồng mau mắn lên đường, tìm gặp Hài Nhi. Khi trở về, họ loan báo điều đã nghe và tôn vinh Thiên Chúa.

Họ trở thành những người loan báo Tin Mừng đầu tiên sau khi Chúa sinh ra.


V. Ý NGHĨA THIÊNG LIÊNG 

- Thiên Chúa không nhìn con người như loài người đánh giá nhau theo địa vị xã hội. Chúa nhìn thấu lòng người.

- Các mục đồng nhắc ta nhớ Giáo Hội gần gũi người nghèo và người bị bỏ quên. Người nghèo có chỗ ưu tiên trong Tin Mừng.

- Các kinh sư biết Kinh Thánh nhưng không đi Bêlem. Mục đồng ít học nhưng lên đường ngay. Muốn gặp Chúa cần phải có tâm hồn đơn sơ.

Người chăn chiên thời Chúa Giêsu thường là tầng lớp lao động bình dân, vất vả, ít được trọng vọng. Nhưng chính nơi họ, Thiên Chúa chọn để tỏ mình đầu tiên trong đêm Giáng Sinh. Điều đó nói với ta rằng Chúa đến cho mọi người, Chúa gần người nghèo và Chúa chọn điều bé nhỏ để làm điều lớn lao.

Và vì thế, khi Chúa Giêsu tự xưng là Mục Tử Nhân Lành, Người đang mặc lấy hình ảnh của sự hy sinh, chăm sóc và tình yêu gần gũi nhất với con người thời ấy và cả con người ngày nay nữa.
Gb. Nguyễn Thái Hùng






 
 Tags: mục tử, Chiên

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây